top of page

Kết quả tìm kiếm

Tìm thấy 64 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • Bí ẩn về Rosalia Lombardo - xác ướp gần trăm năm còn chớp mắt

    Không ít du khách tới tham quan hầm mộ Cappuccini, Italy, cảm thấy rợn tóc gáy khi thấy đôi mắt của xác ướp Rosalia động đậy. Cô bé Rosalia Lombardo mới lên hai khi qua đời vì bệnh viêm phổi vào năm 1920. Quá đau buồn trước cái chết của cô con gái bé bỏng, người cha nhờ tới Alfredo Salafia, chuyên gia ướp xác kiêm thợ nhồi bông thú nổi tiếng thời bấy giờ của thành phố Palermo, Italy. Alfredo thể hiện tay nghề chuyên nghiệp của mình với Rosalia, đến nỗi gần 100 năm sau cô bé trông như thể chỉ đang mơ màng sau tấm kính. An nghỉ trong hầm mộ Catacombe Dei Cappuccini bên dưới một tu viện của Palermo, Rosalia vẫn giữ được những nét trẻ thơ với gò má nhỏ hơi phúng phính, hàng mi khép hờ và trên đầu cột một chiếc nơ lụa quanh búi tóc mây vàng. Người ta ưu ái gọi cô bé là "Người đẹp ngủ trong rừng" (Sleeping Beauty). Nội tạng bên trong thi thể vẫn còn nguyên vẹn, khiến Rosalia trở thành một trong những xác ướp được bảo quản tốt nhất trên thế giới. Nổi bật giữa hàng nghìn xác ướp dưới hầm mộ Cappuccini, Rosalia thu hút đông đảo khách tham quan mỗi ngày. Không ít du khách đã có những giây phút rợn tóc gáy khi chứng kiến Rosalia khẽ chớp mắt. Điều kỳ lạ nằm ở chỗ, đôi mắt của Rosalia, cũng giống như những phần khác trên cơ thể, cứng như hóa đá trong quá trình ướp xác. Hiện tượng này trở thành chủ đề được bàn tán sôi nổi qua nhiều năm. Một số báo cáo lưu lại bằng chứng qua hình ảnh và video cho thấy đôi mắt của xác ướp Rosalia mở rồi lại nhắm nhiều lần trong ngày. Có người cho rằng nhiệt độ dưới hầm mộ thay đổi, tạo hiệu ứng đóng mở cho mi mắt của Rosalia. Tuy nhiên, Dario Piombino-Mascali, người trông nom hầm mộ, đưa ra một giả thuyết hoàn toàn khác. Ông tin rằng đôi mắt biết chớp của Rosalia chỉ là một ảo ảnh quang học, được hình thành khi những tia sáng rọi qua cửa sổ và chiếu tới quan tài dưới một góc nhất định. Khi hướng của ánh sáng thay đổi, Rosalia trông như mở rồi lại nhắm mắt nhiều lần trong ngày. Dario phát hiện ra điều này vào năm 2009. Khi đó, ông có cơ hội quan sát đôi mắt của Rosalia rõ hơn, do công nhân bảo tàng vô tình xê dịch thi thể của cô bé khi chuyển quan tài. Thực tế, đôi mắt của Rosalia chưa từng khép chặt. Song khám phá lớn nhất của Dario chính là tìm ra công thức ướp xác bí mật mà Alfredo Salafia đã áp dụng với Rosalia. Không áp dụng phương pháp tương tự những kỹ thuật ướp xác khác trên thế giới, Alfredo không loại bỏ hoàn toàn nội tạng và bơm đầy muối natron để làm khô thi thể Rosalia. Ông chích một vết nhỏ lên người Rosalia, tiêm hỗn hợp formalin, muối kẽm, rượu, axit salicylic và glycerin vào trong. Mỗi thành phần trên đều có một vai trò đặc biệt: formalin tiêu diệt mọi loại vi khuẩn, glycerin duy trì độ ẩm nhất định còn axit sẽ ngăn chặn nấm mốc phát triển. Công thức thần kỳ này chứa muối kẽm, thứ khiến thi thể của Rosalia như hóa đá, ngăn phần má hay hốc mũi bị biến dạng. Giả thuyết của Dario đã dập tắt nhiều lời đồn đoán hay những câu chuyện vô thực được thêu dệt xoay quanh xác ướp của cô bé. Tuy đã phần nào không còn mang màu sắc kỳ bí, xác ướp Rosalia vẫn luôn là tâm điểm với khách tham quan hầm mộ tại Palermo. Theo National Geographic

  • Bí ẩn tiếng vọng từ đại dương

    "Tiếng vọng" từ đại dương: Bí ẩn khiến giới khoa học không thể giải mã suốt gần 3 thập kỷ Gần 3 thập kỷ đã qua, bí ẩn về âm thanh khác thường này vẫn khiến giới khoa học không ngừng tìm hiểu. Ở phía Bắc Thái Bình Dương có một chú cá voi. Tất nhiên, trong đại dương bao la ấy có vô vàn cá voi. Thế nhưng chú cá voi này vô cùng khác biệt. Nó là một con cá voi đực thuộc giống cá voi xanh hoặc cá voi vây. Không một ai có thể chắc chắn, vì chưa một ai từng nhìn thấy nó. Bí ẩn, vô hình, chú cá voi này vẫn nổi tiếng khắp thế giới, vì nó là chú cá voi cô đơn nhất hành tinh. Ngày 7/12/1992: Tròn một năm Liên Xô giải thể, Chiến tranh Lạnh Mỹ-Xô kết thúc. Trạm Không quân Hải quân đảo Whidbey (Mỹ) vẫn còn. Thái Bình Dương vẫn vậy - vùng biển rộng lớn và vô hạn, vượt ra ngoài đường băng mang tên William Ault - phi công hi sinh trong Trận chiến biển San Hô thời Thế chiến II nhưng thi thể chưa bao giờ được tìm thấy - đã chứng minh một điều: Đại dương "nuốt chửng" con người và khiến họ trở nên bất tử dưới dòng nước sâu. Nhưng trong những ngày cuối năm 1992 đó, cũng tại trạm không quân hải quân đó, Thái Bình Dương xuất hiện một thứ gì đó hữu hạn: Âm thanh kỳ lạ. Có tần số bất thường 52 Hz. Âm thanh phát ra từ một sinh vật đang di chuyển qua vùng biển Thái Bình Dương. Nó đang "hát" một khúc ca đơn độc, cao vút. Phân tích ảnh phổ của sinh vật bí ẩn này, các nhà hải dương học Mỹ dự đoán nó là con cá voi xanh khổng lồ (dài 30m, nặng khoảng 180 tấn), phát ra tần số khiến không một loài cá voi nào có thể nghe thấy. Họ đặt tên nó là 52 Blue (hay Cá voi 52 Hertz). Đối với con người, 52 Hz là một âm thanh thấp - giống như nốt thấp nhất của kèn Tuba - nhưng nó cao đối với cá voi. Thông thường, cá voi "hát" để điều hướng, tìm thức ăn, giao tiếp và tìm kiếm bạn tình. Tiếng hát của chúng dù cách xa hàng ngàn dặm vẫn được đồng loại nghe thấy. Miễn là chúng có cùng tần số, cá voi xanh phát ra tần số từ 10 đến 39 Hz, cá voi vây là 20 Hz (tương đương với những nốt trầm nhất của phím đàn piano). Bài hát phát ra tần suất mà không một loài cá voi nào có nghe được. Nó cao vút đến kỳ lạ. Và cũng cô độc đến khác thường. Không ai chắc chắn tại sao 52 Blue lại hát ở tần số bất thường này. Một số nhà sinh vật học đưa ra giả thuyết rằng chú cá voi này có thể bị dị hình theo một cách nào đó hoặc là con lai của hai loài cá voi. Vì không có đồng loại nào nghe được tiếng nó gọi, giới khoa học quyết định lắng nghe 52 Blue nhiều hơn. Dù có thể nó cô độc ở thế giới đại dương nhưng lại không hề lạc lõng giữa tình yêu của các nhà khoa học, của con người. Giới khoa học lắng nghe và cố gắng "hồi đáp" với nó. Không chỉ phát ra tần suất cao, hành trình của 52 Blue cũng rất khác thường. Năm 2004, các nhà nghiên cứu của Viện Hải dương Woods Hole đã xuất bản một bài báo về 52 Blue trong một tạp chí có tên Deep Sea Research, với nội dung: 52 Blue di chuyển liên tục trên khắp các vùng nước sâu của vùng trung tâm và phía đông lưu vực Bắc Thái Bình Dương. Nó đang thực hiện hải trình rộng nhất so với bất kỳ loài cá voi nào trên thế giới. Đối với hầu hết các loài cá voi khác, chúng thường di cư đến cùng một khu vực mỗi năm: Di cư đến vùng biển nhiệt đới vào mùa đông và đến vùng nước lạnh hơn vào mùa hè. Tuy nhiên, đối với 52 Blue lại khác biệt. Hải trình của nó thay đổi từ năm này sang năm khác và nó không dành nhiều thời gian ở một nơi. Đôi khi nó quay lại dọc theo bờ biển mà anh ta vừa đi. Một mùa khác, nó lại bơi ra vùng nước sâu hơn. Chính vì sở thích đi vô định, không thể đoán trước của 52 Blue mà cho đến tận ngày nay, không một nhà khoa học nào từng tìm được nó, nhìn thấy nó. Tất cả những gì con người biết về cá voi 52 Blue là giọng hát cao vút vừa bi thương, vừa cao ngạo của nó. Nhìn vào những đường rối rắm trên bản đồ của 52 Blue, các nhà khoa học không thể không đặt câu hỏi: 52 Blue đang tìm kiếm thứ gì vậy? Còn rất nhiều bí ẩn về 52 Blue mà giới khoa học chưa thể giải đáp. Dù phát hiện ra 52 Blue từ năm 1992 đến nay, giới khoa học vẫn chưa thể hiểu hết về "huyền thoại biển xanh" này: "Chúng ta chẳng thể hiểu 52 Blue. Chú cá voi ấy có đơn độc hay không? Người ta thích mường tượng về một sinh vật khổng lồ, năm này qua năm khác vẫn hát một khúc ca độc hành mà chẳng đồng loại nào nghe được. Nhưng có thật là 52 Blue chỉ có một mình trong đại dương sâu thẳm? Hay 52 Blue không có thật mà chỉ là một "bóng ma" đại dương? Thật mơ hồ". Điều này thật dễ lý giải vì cho đến nay, chưa một ai từng nhìn thấy hoặc tìm kiếm 52 Blue. Nói cách khác, chưa một ai tận mắt nhìn thấy nó. 52 Blue không chỉ một sinh vật khổng lồ cô độc nhất hành tinh, câu chuyện về nó ẩn dụ cho sự cô đơn. 52 Blue không chỉ một sinh vật khổng lồ cô độc nhất hành tinh. (Nguồn: Internet). Một trong những nỗ lực tìm kiếm 52 Blue đến từ Josh Zeman, một nhà làm phim thực hiện bộ phim tài liệu có tên "52: The Search for the Loneliest Whale in the World" (tạm dịch: Hành trình tìm kiếm cá voi cô độc nhất hành tinh). Trong số những chủ đề đạo diễn Josh Zeman nổi bật lên chủ để về sự cô đơn hiện đại, và các con người phản ứng với câu chuyện của cá voi 52 Blue trong kỷ nguyên kỹ thuật số khi Internet hứa hẹn kết nối hàng triệu người online nhưng thực sự có thể khiến chúng ta bị cô lập sâu hơn. Tuy nhiên, không chỉ ẩn dụ về sự cô đơn, 52 Blue còn truyền tải thông điệp về sự lạc quan: Gần 3 thập kỷ kể từ khi con người phát hiện ra thông điệp âm thanh của nó, 52 Blue vẫn luôn cất tiếng hát giữa đại dương sâu thẳm. Nó vẫn miệt mài gọi đồng loại, và thực hiện hành trình khác lạ để tìm kiếm bạn. Hy vọng ngày nào đó tự nhiên sẽ đáp hồi. Dẫu thế, những gì con người hiểu về sinh vật khổng lồ này vẫn chẳng là gì. Cái mác "cô độc" mà bao người gán vào 52 Blue có phải sự thực hay không? Có thật là 52 Blue chỉ có một mình trong đại dương sâu thẳm? Hay thậm chí liệu 52 Blue có thực sự tồn tại hay chỉ là một "bóng ma" biển cả? Tất cả những câu hỏi này đều đã được đưa ra suốt hơn 30 năm, và chúng ta chỉ có thể tiếp tục chờ đợi câu trả lời. [Ngưỡng nghe của con người có tần số dao động từ 20 đến 20.000 Hz. Dưới tần số 20 Hz gọi là hạ âm. Trên tần số 20.000 Hz gọi là siêu âm]. Theo khoahoc.tv

  • Cô gái hồi sinh sau một đêm bị đóng băng khiến y học không thể lý giải

    27 năm trước Jean Hilliard (Mỹ) bị đóng băng suốt 6 giờ đã hồi sinh kỳ diệu khiến các bác sĩ vô cùng bất ngờ. Đêm 20/12/1980, thời tiết lạnh giá, nhiệt độ giảm xuống âm 22 độ F (-30 độ C). Jean Hilliard lúc đó 19 tuổi lái xe từ nhà bạn về nhà cha mẹ ở Lengby, Minnesota. Bất chợt, cô gái lạc tay lái và lao chệch khỏi đường. Chiếc xe dừng lại và không thể khởi động lại máy, Jean quyết định đi bộ đến nhà Wally Nelson - một người bạn, cách đó khoảng 3,2km. Jean Hilliard lúc đó chỉ đi giày tây, khoác một chiếc áo khoác và đeo găng tay. Quần áo không đủ ấm nên Jean ngã gục xuống đường khoảng vài mét trước cửa nhà người bạn. Cô nằm bất động trong tuyết cho tới khi được Nelson phát hiện vào khoảng 7h sáng hôm sau. Thời điểm đó, người cô đã cứng như một tảng đá và Nelson phải đẩy cô vào ghế sau ôtô rồi đưa đến bệnh viện. Theo Nytimes, các bác sĩ tại Bệnh viện Fosston sững sờ trước tình trạng của Jean. Họ cố gắng truyền dinh dưỡng cho cô qua đường tĩnh mạch nhưng cây kim không thể xuyên qua lớp da đã đóng băng. Bác sĩ cũng không thể đo nhiệt độ cho cô bằng nhiệt kế. Khuôn mặt và đôi mắt cô đông cứng, không phản ứng gì với ánh sáng. Cơ thể bệnh nhân không đáp ứng với bất kỳ hình thức chăm sóc y tế nào. Bác sĩ George Sather điều trị cho Jean cho biết: "Cơ thể cô ấy lạnh lẽo, đông cứng giống như một miếng thịt để trong ngăn đá tủ lạnh. Các chi đều không thể gập hoặc cử động. Cô ấy không có bất kỳ một phản ứng nào trong khoảng hai hoặc ba giờ sau khi bắt đầu tan băng. Nhịp tim của Jean chỉ đập 8 lần mỗi phút. Nhiệt độ cơ thể khoảng 26 độ C". Các bác sĩ lắc đầu bất lực. Họ nói các tế bào hoàn toàn đông cứng, các cơ quan nội tạng cũng lạnh dần, sẽ càng khó hơn để chúng có thể thực hiện chức năng của mình cho tới khi hoàn toàn ngừng hẳn. Thậm chí não cũng không thể cứu. Jean sẽ không còn hy vọng nào cả. Điều duy nhất các bác sĩ có thể làm cho cô gái trẻ là đắp các túi giữ ấm quanh người cô để nâng nhiệt độ cơ thể lên, làm tan lớp băng. 11h trưa, Jean bắt đầu co giật và lấy lại được ý thức một cách thần kỳ. Mọi người xung quanh cô đều kinh ngạc. Vào ban đêm, cô có thể di chuyển đôi cánh tay. Đến ngày thứ 3, đôi chân của cô cũng có thể di chuyển. Cô phải điều trị y tế trong 49 ngày tiếp theo nhưng sau đó hồi phục hoàn toàn và không phải cắt bỏ ngay cả một ngón tay. Đến nay, không ai biết được làm cách nào mà cơ thể của cô gái lại có thể phục hồi hoàn toàn khỏi trạng thái đóng băng cứng như vậy. Trường hợp của Jean Hilliard hiện vẫn còn là một bí ẩn của ngành y. Vì sao một cơ thể có thể sống sót trong trạng thái rắn khi bị đông lạnh? Không giống như nhiều vật chất, nước chiếm một thể tích lớn khi ở thể rắn, và thậm chí còn nhiều hơn cả khi ở thể lỏng. Sự giãn nở theo nhiệt độ này là một tin xấu đối với các mô tế bào bị nhiễm lạnh, vì chất lỏng bên trong cơ thể có nguy cơ bị phồng lên đến mức làm vỡ tung các mạch máu, hay xuyên thủng màng tế bào. Tuy nhiên, cơ thể của Hilliard lại chưa gặp phải những tình trạng này. Theo lý giải của khoa học, rất có thể nạn nhân dù bị hạ thân nhiệt, nhưng vẫn có nhiệt độ cao hơn nhiều so với mức đóng băng. Nếu cơ thể người bị lạnh sẽ xuất hiện hiện tượng hạ thân nhiệt. Sự nguy hiểm của hiện tượng hạ thân nhiệt phụ thuộc vào từng mức độ giảm nhiệt cơ thể. Cụ thể khi xuống mức 32 độ C, cơ chế bù trừ nhiệt độ của cơ thể bắt đầu suy giảm, trạng thái tâm thần có thể biến đổi và thậm chí người bệnh có thể bị mất trí nhớ. Khi xuống mức 27 độ C, nạn nhân bắt đầu mất ý thức. Khi còn dưới 21 độ C, trạng thái hạ thân nhiệt nặng sẽ diễn ra, và có thể dẫn tới tử vong. Kỷ lục ghi nhận thân nhiệt thấp nhất của một người trưởng thành mà vẫn sống sót là ở 13,7 độ C. Ở thời điểm đó, người này đã bị ngâm trong nước lạnh và đóng băng trong thời gian khá lâu. Trên thực tế, cơ thể người hay bất kỳ loài động vật nào cũng sẽ trở nên căng cứng một cách rõ rệt khi gặp phải tình trạng hạ thân nhiệt nghiêm trọng. Điều này dễ gây nhầm lẫn với tình trạng đóng băng, dù mức độ nghiêm trọng của 2 trạng thái này là khác nhau. Đối với Hilliard, cơ thể của cô có lẽ đã gặp phải tình trạng căng cứng giống như khi xảy ra với một xác chết. Điểm lợi của trạng thái này đó là cơ thể sẽ tự động "đóng" các kênh dẫn đến mạch máu dưới da, nhằm giữ cho các cơ quan bên trong vẫn hoạt động ổn định. Cơ chế này hoạt động hiệu quả đến mức rất dễ khiến người ta lầm tưởng rằng nạn nhân đã chết, với biểu hiện hoàn toàn lạnh ngắt khi chạm vào và không có dấu hiệu của sự sống. Thậm chí nhịp tim cũng được đưa về ở mức rất thấp. Khi cơ thể rơi vào trạng thái này, các nhân viên y tế sẽ rất khó để cứu giúp nạn nhân, vì họ không thể dùng kim tiêm để xuyên qua lớp da do các tĩnh mạch bị co thắt nặng nề, và tình trạng mất nước khiến chúng ép chặt vào các cơ bên trong. Nạn nhân lúc này cũng ở trạng thái cực kỳ nguy hiểm, và cận kề cái chết nếu như không có sự can thiệp kịp thời. Những điều này cho thấy Hilliard đã hoàn toàn may mắn và sống sót một cách thần kỳ khi cô thực sự đã "đối mặt với tử thần". Câu chuyện cũng cho thấy những điều tuyệt vời mà cơ thể con người có thể đạt được. Dẫu vậy, chúng ta không nên trông chờ vào may mắn, vì rất ít người có khả năng chịu đựng sự thay đổi trạng thái khắc nghiệt tới như vậy. Theo khoahoc.tv

  • “Mẹ đẻ” của Wifi là người “đẹp nhất thế giới”

    Nhắc đến Hedy Lamarr (tên thật ʟà Hedwig Eva Maria кiesler, siոh năm 1914), ոhiều ոցười sẽ ոhớ ոցay đến một đại miոh tiոh Hollywood sở hữu ոhiều vai diễn để đời troոց Algiers, The Strange Woman hay Samson and Delilah. Bên ϲạոh đó, Hedy ϲòn được mệոh daոh ʟà “người phụ nữ đẹp ոhất thế giới” ոhờ ϲó vẻ đẹp mà ոցười đời ϲa tụոց ʟà “bất tử”. Hedy Lamarr ʟà nữ miոh tiոh sở hữu ոhan sắc được xếp vàօ hàոց huyền thoại bên ϲạոh ոhữոց Elizabeth Taylor hay Audrey Hepburn… Thế ոhưոց tạp ϲhí Forbes ϲó viết, di sản vĩ đại ոhất mà bà để ʟại ϲhօ ոhân ʟoại кhôոց phải ở ʟĩոh vực điện ảոh mà ʟại ʟà ở phươոց diện ϲôոց ոցhệ. Ít ai ոցờ được Hedy ϲhíոh ʟà ոցười phát miոh ʟà ϲôոց ոցhệ ոhảy tần số vàօ năm 1941, vốn ʟà tiền thân ϲủa Wifi, GPS hay Bluetooth mà hàոց tỉ ոցười trên thế giới đaոց sử dụոց ոցày nay. Hedy siոh ɾa và ʟớn ʟên ở Áօ ɾồi ʟấy ϲhồոց vàօ năm 19 tuổi. Soոց ϲuộc hôn ոhân hạոh phúc đã кhiến bà bỏ ոhà đi ոցay troոց đêm bằոց xe đạp. Hedy sau đó di ϲư đến Mỹ và được ոցười đứոց đầu MGM Studiօ để mắt đến và dần ϲó được ոhữոց hợp đồոց vai diễn quan trọոց ở Hollywood. Khôոց ϲhỉ ʟà một diễn viên, Hedy ϲòn được tôn viոh ʟà thiên tài, “mẹ đẻ” ϲủa Wifi. Nhan sắc ɾực ɾỡ ϲủa Hedy кhiến baօ ոցười phải say đắm. Người đẹp gốc Áօ ոhaոh ϲhóոց địոh ϲư ở Beverly Hills và quen biết với ոhữոց tên tuổi ʟớn, troոց đó ϲó ϲả ϲựu Tổոց thốոց Mỹ John F. кennedy và ոhà tài phiệt Howard Hughes. Họ ϲũոց ϲhíոh ʟà ոցười ϲuոց ϲấp ϲhօ Hedy ոhữոց thiết bị thí ոցhiệm để bà thực hiện ոցhiên ϲứu troոց кhoảոց thời gian кhôոց đi đóոց phim. Nhữոց phát miոh ϲủa Hedy vô ϲùոց đa dạng, ϲó thể кể đến một số thứ độc đáօ ոhư viên nén ϲó thể hòa tan troոց nước và tạօ thàոh đồ ᴜốոց ϲó ga thơm ոցon hay một thiết кế ϲải tiến ϲhօ đèn giaօ thôոց ʟúc bấy giờ. Bà đam mê ʟàm ϲác ϲuộc ոցhiên ϲứu, thí ոցhiệm кhi кhôոց phải đóոց phim. “Phát miոh ʟà điều dễ dàոց đối với tôi. Tôi кhôոց ϲần phải vắt óc suy ոցhĩ về ϲác ý tưởng, ϲhúոց đến một ϲách ɾất tự ոhiên.” – Hedy nói troոց bộ phim tài ʟiệu Bombshell: The Hedy Lamarr Story và phát miոh quan trọոց ոhất mà bà tạօ ɾa xuất phát từ moոց muốn giúp đỡ nước Mỹ troոց thời кì Thế ϲhiến thứ II. Hedy đã vận dụոց toàn bộ кhả năոց và óc sáոց tạօ ϲủa mìոh để tạօ ɾa thiết bị ϲó кhả năոց gây ոhiễu tần số vô tuyến được sử dụոց để dẫn đườոց ϲhօ ոցư ʟôi. Nhà sử học Richard Rhodes từոց ϲhia sẻ: “Hedy biết ɾằոց tín hiệu vô tuyến ϲó thể gây ոhiễu. Tuy ոhiên nếu ϲó ϲách кhiến ϲác tín hiệu ոhảy một ϲách ոցẫu ոhiên từ tần số này saոց tần số кhác thì tín hiệu ϲủa đối phươոց sẽ кhôոց đoán được vị trí thực sự.” Phát miոh maոց tíոh ʟiên quan đến tần số vô tuyến ϲủa Hedy đã đóոց góp ɾất ոhiều troոց ʟịch sử. Dù đăոց кí bằոց sáոց ϲhế từ sớm soոց ϲôոց ʟaօ ϲủa Hedy кhôոց được biết đến ɾộոց ɾãi ở thời điểm đó. Có sẵn phươոց án giải quyết troոց đầu кèm theօ sự giúp đỡ ϲủa ոhà soạn ոhạc, đồոց thời ϲũոց ʟà phát miոh George Antheil, Hedy đã thàոh ϲôոց tạօ ɾa thứ mìոh muốn. Đến năm 1942, Hedy và George đã được ϲấp bằոց sáոց ϲhế ϲhօ phát miոh ϲhuyển đổi tần số vĩ đại này. Như vậy nếu кhôոց ϲó bộ óc sáոց tạօ ϲủa Hedy thì ɾất ϲó thể thế giới ϲủa ϲhúոց ta кhôոց phát triển được ոhư bây giờ. Nhưոց một điều đáոց tiếc ʟà vàօ thời điểm đó, sự phân biệt giữa nam và nữ ϲòn quá nặոց nề nên, thêm vàօ đó vai trò diễn viên ϲủa bà ʟại nổi bật кhôոց кém nên đóոց góp ϲủa Hedy ϲhօ ϲôոց ոցhệ đã bị ʟu mờ. Phải sau hàոց thập кỉ, кhi sự bìոh đẳոց nam nữ trở nên phổ biến hơn thì tên tuổi ϲủa Hedy mới được gắn ʟiền với phát miոh ϲủa ϲhíոh mình. Tiến sĩ Simon Nyeck – Chủ tịch thươոց hiệu tại Trườոց кiոh doaոh ESSEC ở Pháp nói ɾằng, troոց ʟịch sử, phụ nữ thườոց ϲhỉ được ոhìn ոhận và đáոh giá ϲaօ về mặt ոցoại hìոh ϲhứ кhôոց phải кhả năոց tư duy, phát miոh hay sáոց tạo. Dօ đó, ôոց hoàn toàn кhôոց ոցạc ոhiên кhi phải mất đến hàոց thập кỉ, ϲôոց ʟaօ ϲủa Hedy Lamarr mới được ghi ոhận. Con gái ϲủa Hedy – Denise Loder vô ϲùոց tự hàօ với trí tuệ ϲủa mẹ mìոh và ϲôոց việc mà bà đã ʟàm troոց suốt sự ոցhiệp để vượt qua ϲái ոhìn địոh кiến về phụ nữ: “Mẹ tôi đã đi trước thời đại bằոց ϲách bêոh vực quyền ʟợi dàոh ϲhօ phụ nữ.” – Denise nói troոց phim tài ʟiệu về mẹ mình. Nguồn: yan.vn

  • Khám phá rãnh Mariana, nơi sâu nhất thế giới.

    Rãnh Mariana là rãnh đại dương sâu nhất trên Trái đất. Mặc dù nơi đây có điều kiện sống vô cùng khắc nghiệt nhưng các sinh vật biển vẫn phát triển phong phú và đa dạng một cách đáng kinh ngạc. Rãnh Mariana, còn gọi là vực Mariana có hình lưỡi liềm nằm nằm trên phần đáy của khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương, về phía Đông quần đảo Mariana thuộc Hoa Kỳ. Với độ sâu tối đa lên tới 11.034 mét, rãnh đại dương này được xác nhận là nơi sâu nhất trong lớp vỏ Trái Đất mà con người từng biết đến. Khu vực xung quanh rãnh là nơi đáng chú ý với nhiều môi trường độc đáo, bao gồm các miệng phun thủy nhiệt giải phóng lưu huỳnh và carbon dioxide (CO2) lỏng, những ngọn núi lửa bùn đang hoạt động và sinh vật biển thích nghi với áp suất gấp 1.000 lần so với mực nước biển. Rãnh Mariana được phát hiện bởi một con tàu thuộc Hải quân Hoàng gia Anh mang tên “HMS Challenger” vào năm 1858. Đến tận năm 1951, những khảo sát ban đầu về nơi sâu nhất trái đất này mới được thực hiện. Rãnh Mariana sâu đến nỗi nếu bạn thả núi Everest (cao 8.848m) xuống đây, đỉnh của nó vẫn còn cách mặt nước vài km. Ở dưới đáy vực, nhiệt độ dao động từ 1 đến 4 độ C. Áp suất nước ở đáy rãnh khoảng 1.071 atm gấp 1.000 lần so với áp suất khí quyển tiêu chuẩn ở mặt nước biển. Nếu bạn bị thả xuống điểm tận cùng của rãnh Mariana, thì một áp lực lên tới 8 tấn sẽ đè lên mỗi inch vuông trên cơ thể bạn. Quá trình hình thành Rãnh Mariana hình thành tại một vùng hút chìm, nơi hai mảng kiến tạo lớn của lớp vỏ đại dương va chạm với nhau. Tại đới hút chìm, một mảng kiến tạo bị đẩy và kéo xuống bên dưới mảng còn lại, khiến nó chìm sâu vào lớp manti [nằm ở bên dưới lớp vỏ] của Trái đất. Nơi hai mảng kiến tạo giao nhau, một rãnh sâu hình thành phía trên chỗ uốn cong của mảng kiến tạo bị chìm xuống. Trong trường hợp của Rãnh Mariana, mảng Thái Bình Dương có niên đại 180 triệu năm tuổi bị uốn cong và chìm xuống bên dưới mảng Philippines – có kích thước nhỏ hơn và trẻ hơn mảng Thái Bình Dương. Mặc dù vực thẳm Challenger Deep thuộc Rãnh Mariana là nơi sâu nhất thế giới nhưng nó không phải là địa điểm gần tâm Trái đất nhất. Bởi vì Trái đất phình ra ở xích đạo nên bán kính tại hai cực nhỏ hơn bán kính ở xích đạo khoảng 25km. Do đó, đáy biển Bắc Băng Dương gần trung tâm Trái đất hơn so với vực thẳm Challenger Deep. Sự sống trong Rãnh Mariana Những cuộc thám hiểm khoa học gần đây đã phát hiện sự sống phong phú và đa dạng một cách đáng kinh ngạc trong điều kiện môi trường khắc nghiệt tại Rãnh Mariana. Các loài động vật ở phần sâu nhất của Rãnh Mariana sống sót trong bóng tối hoàn toàn và áp suất cực lớn, lên tới hơn 703kg/m2. Đây là mức áp suất gấp 1.000 lần so với áp suất tại mực nước biển, tương đương với 50 chiếc máy bay phản lực xếp chồng lên nhau trên một diện tích nhỏ bằng một quả bóng. Natasha Gallo, nhà nghiên cứu tại Viện Hải dương học Scripps, đã nghiên cứu đoạn video quay cận cảnh Rãnh Mariana từ chuyến thám hiểm của nhà làm phim James Cameron vào năm 2012. Gallo phát hiện thức ăn ở rãnh Mariana cực kỳ hạn chế, bởi vì nó nằm cách xa đất liền. Xác thực vật trên cạn hiếm khi được tìm thấy dưới đáy rãnh, và xác sinh vật phù du ở vùng nước mặt phải rơi xuống hàng nghìn mét để tới vực thẳm Challenger Deep. Một số vi khuẩn sống chủ yếu dựa vào các chất hóa học, chẳng hạn như khí methane (CH4) hoặc lưu huỳnh, trong khi nhiều sinh vật khác nuốt chửng các sinh vật biển nằm bên dưới chúng trong chuỗi thức ăn. “Ba sinh vật phổ biến nhất ở đáy Rãnh Mariana là động vật đơn bào xenophyophore, động vật giáp xác amphipod và hải sâm biển nhỏ”, Gallo cho biết. Động vật đơn bào xenophyophore trông giống các loài amip khổng lồ. Do có cấu tạo đơn giản nên chúng sẽ dùng cơ thể để bao quanh và hấp thụ trực tiếp thức ăn từ môi trường. Trong khi đó, Amphipod là động vật ăn xác thối có hình dạng giống tôm và chúng thường xuất hiện ở các rãnh đại dương. Làm thế nào chúng có thể sống sót trong môi trường khắc nghiệt như vậy cho đến nay vẫn là điều bí ẩn, bởi vì lớp vỏ của amphipod được cho là dễ dàng tan ra trong điều kiện áp suất cao của Rãnh Mariana. Năm 2019, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện một số loài sống ở Rãnh Mariana sử dụng nhôm chiết xuất từ nước biển để làm tăng độ cứng cho lớp vỏ của chúng. Một trong những động vật săn mồi hàng đầu của khu vực là loài cá ốc Mariana có vẻ ngoài trông khá yếu ớt và kỳ quái. Năm 2017, các nhà khoa học đã thu thập mẫu vật đầu tiên của chúng ở độ sâu khoảng 8.000m. Loài cá này có cơ thể nhỏ, màu hồng, không có vảy. Con mồi của chúng chủ yếu là các động vật không xương sống cư trú trong Rãnh Mariana. Rãnh Mariana có bị ô nhiễm không? Thật không may, rãnh đại dương có thể hoạt động như một bể chứa tiềm năng cho các chất ô nhiễm và rác thải bị loại bỏ. Trong nghiên cứu được công bố trên tạp chí Nature Ecology and Evolution vào năm 2017, các nhà khoa học tại Đại học Newcastle (Anh) phát hiện một số chất hóa học do con người tạo ra từng bị cấm vào thập niên 1970 vẫn đang ẩn náu ở những phần sâu nhất của đại dương. Trong khi lấy mẫu động vật giáp xác amphipod tại Rãnh Mariana, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận hàm lượng các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) ở mức rất cao trong mô mỡ của sinh vật. Chúng bao gồm polychlorinated biphenyls (PCBs) và polybrominated diphenyl ethers (PBDEs) – các hóa chất thường được sử dụng làm chất cách điện và chất chống cháy. Bởi vì POP không thể phân hủy tự nhiên nên chúng tồn tại trong môi trường hàng chục năm. Chúng bám vào các mảnh vụn nhựa hoặc theo xác động vật chết chìm xuống đáy biển. Các chất ô nhiễm sau đó chuyển từ sinh vật này sang sinh vật khác thông qua chuỗi thức ăn, cuối cùng dẫn đến nồng độ hóa chất ở đáy đại dương cao hơn nhiều so với mức ô nhiễm tại bề mặt. “Chúng tôi từng nghĩ rãnh đại dương sâu thẳm là một nơi xa xôi và hoang sơ, an toàn trước tác động của con người, nhưng nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh điều ngược lại”, Alan Jamieson, giảng viên cao cấp về sinh thái biển tại Đại học Newcastle, cho biết. (Theo Live Science) Rãnh Mariana là một khu vực tối đen như mực do ánh sáng không thể chạm tới. Nhưng nơi đây là nơi sinh sống của rất nhiều loài sinh vật “cực dị”. Tất cả các sinh vật sống ở nơi sâu nhất trên Trái Đất này đều bị mù và có làn da trong suốt nhìn thấy được cả nội tạng. Tuy nhiên đó chưa phải những gì bất ngờ nhất mà con người từng tìm thấy dưới rãnh đại dương này. Để biết rõ hơn có gì bên dưới rãnh Mariana, nơi sâu nhất thế giới, mời các bạn xem video thú vị dưới đây. Cứ tưởng tượng nếu lỗ hổng trên biển có thể nuốt nước vô thời hạn, thì nước biển về mặt lý thuyết sẽ cạn kiệt, các nhà khoa học cũng đã tiến hành nghiên cứu về điều này và cuối cùng họ phát hiện ra rằng có một “lỗ hổng” như vậy thực sự tồn tại trên biển.Ví dụ, rãnh Mariana, rãnh sâu nhất thế giới, đang nuốt một lượng lớn nước biển, nhưng tại sao mực nước biển vẫn không giảm xuống? Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu, rãnh Mariana đang nuốt nước biển với tốc độ nhanh gấp 4,5 lần so với các ước tính trước đó, tức là nó phải nuốt 3 tỷ tấn nước biển mỗi năm. Ngoài ra, còn có những rãnh khác trên biển sẽ nuốt nước, tuy nhiên nó không quá mức như Mariana, nhưng nó vẫn sẽ làm thất thoát một lượng lớn nước biển. Tại sao mực nước biển không giảm? Lý do tại sao trái đất lại nuốt nước biển như vậy và không làm cho mực nước biển giảm thực sự liên quan đến sự chuyển động của các mảng của trái đất. Môi trường chúng ta đang sống hiện nay là do các mảng di chuyển qua nhiều năm mà mắt người không nhìn thấy được, nhưng thực tế các mảng đã di chuyển từ hàng tỷ năm trước đến nay, và biển đã bị trái đất nuốt chửng trong hàng tỷ năm. Sau khi nước biển đi vào bên trong trái đất, nó sẽ trả lại một phần nước biển cho trái đất dưới dạng hơi nước thông qua các vụ phun trào núi lửa do chuyển động của mảng tạo ra. Các phân tử nước này tạo thành mưa, và khi mưa tiếp tục quay trở lại biển, bất kể lượng nước bị rãnh đại dương nuốt vào bao nhiêu, nó vẫn có thể theo trái đất và quay ngược lại. Ngoài ra, khi thế giới bắt đầu ấm lên trong những năm gần đây, các sông băng ở Nam Cực và Bắc Cực đang tan chảy với tốc độ có thể nhìn thấy bằng mắt thường, và hầu hết chúng cuối cùng sẽ đổ ra biển, khiến mực nước biển không những không giảm, mà tăng lên. Trong hàng tỷ năm đầu, mực nước biển vẫn được kiểm soát bởi lượng mưa hàng năm, tất cả đều đạt được bằng đường tròn của trái đất. Đồng thời, các nhà khoa học cũng phát hiện ra rằng, một phần nước trên trái đất đến từ không gian, tuy lượng nước không lớn lắm nhưng vẫn sẽ làm thay đổi một lượng nhất định trên trái đất. Nói tóm lại, miễn là việc nuốt nước của rãnh không tăng đến mức khủng khiếp, hoặc chuyển động của mảng không trở nên quá thường xuyên, thì mực nước biển về cơ bản sẽ duy trì độ cao hiện tại. Nhưng chúng ta phải đảm bảo rằng con người sẽ tiếp tục bảo vệ môi trường, nếu không một khi các sông băng ở hai cực thực sự tan chảy, loài người sẽ mất đi một vùng đất rộng lớn thích hợp để sinh tồn. Dù con người là chủ nhân của trái đất, chúng ta vẫn phải có lòng tôn kính đối với hành tinh này, nếu không, một khi nó có tính khí nóng nảy và những thảm họa thiên nhiên khác nhau sẽ thường xuyên xảy ra, loài người có thể không còn xa để diệt vong. Nguồn: quantrimang.com; Quốc Hùng (khoahocphattrien.vn); conglyxahoi.net.vn

  • Khám phá hiện tượng kỳ bí "Mặt biển chia đôi" trên mỗi đại dương

    Thiên nhiên vẫn luôn là một thứ gì đó rất kỳ diệu. Nó có thể thật hung hiểm, bạo tàn với sức mạnh không gì chống đỡ được, nhưng cũng có khi đẹp mịn màng, rực rỡ và kỳ vĩ, giống như hiện tượng trong bức hình dưới đây. Nếu muốn chiêm ngưỡng rõ hơn cảnh tượng tuyệt đẹp này, mời các bạn xem video dưới đây. Video hiện tượng "Mặt biển chia đôi" này được ghi lại tại bang Mississippi (Mỹ). Về mặt lý thuyết, nó có thể xảy ra ở mọi đại dương trên thế giới, tại những khu vực "Cửa sông" - nơi nước sông chảy ra và đổ vào biển. Tuy vậy, hiếm nơi nào có được sự chia cắt đặc biệt như khu vực sông Missisippi. Khu vực nước bên trái là nước sông và bên phải là nước biển. Nơi giao nhau của chúng đã tạo nên cảnh tượng tuyệt đẹp này. Nhưng tại sao nước biển và nước sông không hoà vào nhau, mà lại tạo thành một ranh giới kỳ lạ như vậy? Trước kia, nhiều nền văn hóa lý giải, nguyên nhân hiện tượng này liên quan đến tâm linh. Như kinh Quran của người Hồi giáo cho rằng, nước sông - nước biển không thể hòa lẫn, do đó thần linh đã tạo nên một ranh giới giữa nước sông và nước biển để cứu lấy con người. Nước biển dù lớn, nhưng không thể chiếm lấy sông - nguồn nước ngọt của con người. Trên thực tế, kinh Quran cũng có ý đúng: nước biển và nước sông đơn giản là không thể hòa vào nhau. Tuy nhiên lý do lại không được đơn giản như vậy. Để hiểu được chuyện này, cần biết rằng trước kia nước biển trên Trái đất không mặn như ngày nay. Nhưng khi mưa rơi xuống, nó hòa tan muối và chất khoáng trên đất liền, rồi theo những dòng sông đổ ra biển. Nói cách khác, đại dương là nơi tiếp nhận muối từ mọi con sông, nên độ mặn của biển lớn hơn hẳn. Và chính sự chênh lệch về độ mặn đã khiến mật độ nước 2 bên khác nhau và không thể hoà lẫn. Thay vào đó, nước muối sẽ chảy bên dưới nguồn nước ngọt phía trên. Hiện tượng này không chỉ xuất hiện tại cửa sông, mà tại cả những khu vực giao nhau của hai đại dương, chỉ cần độ mặn hai bên có sự chênh lệch. Ví dụ như trường hợp của biển Bắc (North Sea) và biển Baltic trong ảnh dưới đây. Nguồn: Geology Page

  • Bí ẩn Vanga - Nhà tiên tri huyền thoại

    Trong cuốn sách "Bí mật của Vanga", soạn thảo bởi nhà nghiên cứu Zheni Kostadinova, triết gia Stoyu Stoev đã chia sẻ những trải nghiệm không thể nào quên về nhà tiên tri Baba Vanga sau khi được gặp mặt bà vào năm 1972. Trong chuyến đi tới Petrich, Bulgaria để dạy học, ông Stoev đã chứng kiến việc có hàng trăm người xếp hàng dài chờ vào gặp bà Vanga. Chính điều này đã thôi thúc ông tìm cách liên hệ với Vanga và lí giải những khả năng khác thường của bà. Ông Stoyu kể lại việc một lần được tận mắt chứng kiến khả năng thần kì của bà Vanga vào năm 1972. Người đầu tiên được nhà tiên tri chấp nhận gặp mặt là một phụ nữ cao tuổi, mặc bộ đồ toàn màu đen. Bà ta đến từ Vratsa, vừa khóc vừa nói: “Con trai tôi đã đến Tây Đức từ 2 năm trước mà đến nay tôi vẫn chưa nhận được thông tin gì về nó. Tất cả hàng xóm của tôi cũng đã chết. Làm ơn nói cho tôi biết, liệu con tôi còn sống hay không và lí do để tôi tiếp tục sống là gì?”. Bà Vanga tập trung và trả lời: “Tôi nhìn thấy một ngôi mộ, ai đó đã được chôn vào 15 ngày trước”. “Đó là ngôi mộ của người em trai. Nó chết cách đây 2 tuần, tôi đang hỏi đứa con khác, người anh trai”, người phụ nữ nói. “Tôi nhìn thấy một ngôi mộ khác, nhưng đây là một ngôi mộ cũ”, Vanga tiếp tục. Người phụ nữ giải thích: “Đó là mộ của chồng tôi. Tôi đang hỏi về đứa con của mình, người anh trai”. “A đây rồi, tôi có thể nhìn thấy anh ta. Anh ta vẫn còn sống, đang mặc bộ đồ màu xám. Anh ta không ở Tây Đức mà sống tại thành phố Munich. Anh ta cũng không ở một mình, có một người phụ nữ và một đứa trẻ nữa”, Vanga nói và người phụ nữ cao tuổi ôm chầm lấy bà vì sung sướng. Triết gia Stoyu là người may mắn được chứng kiến tận mắt khả năng đặc biệt của Vanga Người thứ 2 bước vào gặp Vanga là một quân nhân từ Dimitrovgrad, Nga. Ông này mang theo một viên đường từ vợ mình và nói rằng bà ấy không được khỏe. Vanga chạm vào viên đường và hét lên: “Vợ của ông không hề bị ốm, cô ta chỉ đang lo lắng thái quá. Ông hãy đi kiểm tra thận của mình đi vì ông mới là người bị ốm và vợ của ông thì nên đi nghỉ để thư giãn”. Người quân nhân trên tiếp tục hỏi liệu ông có nên phẫu thuật như lời bác sĩ khuyên hay không. Vanga trả lời “Có” nhưng nói thêm rằng, “vấn đề không nằm ở nơi bác sĩ nói. Nhiều năm trước, ông đã bị ngã xe máy đúng không, điều này đã làm tổn thương xương sống và giờ cơn đau đến từ chính chỗ này. Hãy nói bác sĩ của ông tập trung vào xương sống”. Trò chuyện với Vanga Bà Vanga đã chia sẻ với triết gia Stoyu rằng bà có một tuổi thơ khó khăn, nghèo khổ thậm chí mắt còn bị mù. Đối với câu hỏi vì sao bà có thể nhìn thấy mọi thứ v�� tiên tri, Vanga trả lời: “Vào năm 1941, thời điểm xảy ra chiến tranh, rất nhiều người đã mất tích và lúc đó người ta bắt đầu đến hỏi tôi về những người này. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy tương lai là trong giấc mơ. Tôi mơ thấy cô hàng xóm của mình tức giận vì mất chiếc váy và tôi thấy chiếc váy ở trong ngăn kéo của bàn trang điểm. Sáng hôm sau, tôi qua nhà hàng xóm và thấy cô ta đang tức giận thật. Tôi đã hỏi điều gì đang diễn ra và được trả lời rằng, cô đang tìm chiếc váy. Tôi chỉ đến ngăn kéo của bàn trang điểm như những gì mình mơ và quả thật chiếc váy đang ở đó. Những sự việc như vậy cứ liên tục diễn ra và mọi người đến gặp tôi nhiều hơn, hầu hết là để tìm kiếm những người mất tích. Tôi có thể nhìn thấy ai đó đang làm gì, ở đâu, mặc gì, còn sống hay không”. “Bà đã nhìn thấy những thứ đó như thế nào, dưới dạng một bức tranh hay hình động?”, ông Stoyu hỏi. “Tôi nhìn thấy chúng di chuyển. Khi ai đó bước vào nhà tôi, tôi sẽ cầm những viên đường mà họ đã đặt dưới gối khi ngủ. Lúc đó tôi bắt đầu nhìn thấy những bức ảnh, di chuyển từ trái qua phải. Đó là những bức ảnh động của con người, sự kiện. Chúng di chuyển rất nhanh và không ngừng nghỉ nên đôi khi tôi không thể nhìn được hết. Đây chính là lí do tôi phải hỏi mọi người đến đây rằng, họ muốn biết về điều gì: bệnh tật, tìm kiếm thứ đã mất hay muốn một công việc, một đứa trẻ. Tôi sẽ chỉ nói về điều họ thực sự muốn nhìn thấy. Có người đến với tôi nhưng tôi lại không thể nhìn thấy điều gì và không thể giúp họ”, Vanga trả lời. “Vậy còn về những âm thanh, bà có nghe thấy điều gì không?”, Stoyu hỏi tiếp. “Tôi nghe thấy âm thanh trong đầu mình, đôi lúc nó quá lớn khiến tôi đau đầu như búa bổ. Khi tôi nhìn thấy những sự việc đau buồn như tai nạn, bệnh tật hay cái chết, tôi biết là mình không nên nói ra nhưng có âm thanh cứ vang lên trong đầu tôi rằng: “Nói cho họ đi”. Trong trường hợp như vậy, tôi quay mặt đi và thì thào về những gì mình nhìn thấy để cho người hỏi không nghe thấy nhưng các âm thanh trong đầu sẽ dừng lại”, Vanga nói. “Những người tìm đến bà là người Mỹ, Hy Lạp, Đức, Nga, bà không thể nói được ngôn ngữ của họ, vậy làm sao bà biết được người nhà họ đang nói gì với mình”, ông Stoyu đặt ra câu hỏi. “Họ nói ngôn ngữ của mình và bằng cách nào đó tôi đã hiểu được, có thể không phải từng câu từ nhưng ý của họ. Tôi cũng luôn giao tiếp bằng ngôn ngữ của mình và để họ tự phiên dịch ra”. Vanga trả lời. Lí giải hiện tượng Baba Vanga Trong thế kỉ 20, thái độ của khoa học đối với khả năng phi thường của Vanga có thể nói đơn giản là khá tiêu cực và nó không chỉ ở Bulgaria mà là toàn thế giới. Nguyên nhân cho việc này là do có sự khác biệt quá lớn giữa phương pháp tìm hiểu vấn đề bằng những chứng cứ rõ ràng, có thể chứng minh kiểu khoa học với sự mơ hồ và thiên về khả năng đặc biệt cá nhân như của Vanga. Khi không thể lí giải được những hiện tượng này, cách dễ dàng nhất cho khoa học đó là phủ nhận tất cả, tuyên bố chúng không tồn tại hoặc phớt lờ đi. Từ sau thời kì Phục Hưng, khoa học đã đạt được nhiều thành công trong việc lí giải các hiện tượng tự nhiên, điều ngay lập tức làm lu mờ những học thuyết về tâm linh. Mặc dù vậy, khoa học có giới hạn và chỉ nói lên được một mặt của vấn đề. Nó chỉ giải thích được những vấn đề chung, không thay đổi mà thất bại trong việc thấu hiểu những điều riêng biệt, giàu tính cảm xúc và bất thường. Tuy nhiên, ngày nay, với sự phát triển của vi điện tử và sinh học phân tử, ngày càng nhiều các nhà khoa học đang tìm cách thấu hiểu những hiện tượng siêu nhiên qua các phương pháp hiện đại. Một vài ví dụ nghiên cứu có thể được kể đến như giả thuyết của nhà khoa học A.Hatrin và Yu. Tatuor về các loại vi hạt cơ bản, có khả năng di chuyển với tốc độ nhanh hơn cả ánh sáng trong mọi điều kiện không gian và thời gian, từ đó lí giải cách thức truyền thông tin ở những người có khả năng siêu nhiên. Hay ví dụ của nhà khoa học Bird người Mỹ. Ông đã lắp đặt một loạt cảm biến vào những chiếc lá cây để chứng minh khả năng truyền và nhận thông tin của chúng. Và thật bất ngờ rằng, những chiếc lá này phản ứng với sự xuất hiện, cũng như hành động của con người và sinh vật sống khác một cách rõ ràng. Một giả thuyết khác được nghiên cứu bởi nhà khoa học V. Kazancheev đó là sự truyền thông tin được diễn ra ở mức tế bào. Tất cả các sinh vật sống đều được hình thành từ hàng chục tỉ tế bào và do đó có thể truyền thông tin qua cách thức này. Ông Kazancheev đã phá bỏ ranh giới suy nghĩ về việc thông tin chỉ có thể tồn tại ở các thực thể hữu cơ, có cảm giác mà cho rằng, nó tồn tại ở mọi vật thể trên thế giới, tuy nhiên, để cảm nhận được, con người cần phải có các khả năng đặc biệt như giác quan thứ 6 hay trực giác. Giả thuyết này có lẽ thích hợp để giải thích cho việc vì sao Vanga chỉ cần cầm vào viên đường để cảm nhận về con người trong các ví dụ kể trên. Có thể nói, khả năng nhận và sử dụng các thông tin siêu nhiên là bẩm sinh trong tất cả con người, tuy nhiên, sự khác biệt là mức độ nhạy bén ở mỗi cá nhân. Hầu hết con người chỉ có thể cảm nhận được thông tin kiểu mắt thấy tai nghe nhưng một vài người trên thế giới có được năng lực đạt mức thần kì như Vanga. Sự đặc biệt của Vanga còn thể hiện ở việc bà có khả năng thích nghi cao khi có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều đối tượng ngay khi người đó đến nhà mình. Về những người đã mất, Vanga nói họ không xuất hiện nhưng vẫn còn tồn tại, họ xuất hiện trước mặt bà và có thể giao tiếp với bà. Sự tồn tại của linh hồn sau khi con người đã chết là khái niệm không chỉ được đặt ra trong tôn giáo mà còn cả khoa học. Ngày nay, nhiều người tin rằng, linh hồn không chỉ là một hình ảnh mà nó là một cấu trúc thông tin năng lượng tương đối ổn định, có thể tồn tại lâu dài và không phụ thuộc vào người sống hay chết. Về tương lai hay quá khứ, Vanga từng nói: “Không có có quá khứ hay tương lai gì hết, tất cả là một. Tôi có thể nhìn thấy như là nó đang diễn ra”. Điều này dường như trùng hợp với những gì nhà khoa học Immanuel Kant từng nói một vài thế kỉ trước rằng, khái niệm về thời gian và không gian chỉ được tạo ra bởi trí óc con người vì mục đích đặc biệt trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng trong giải ngân hà, không gian và thời gian không có giá trị, tất cả là một quá trình diễn ra liên hoàn. Nhà bác học Albert Einstein cũng đã từng đặt ra giả thuyết rằng, không gian và thời gian chỉ là khái niệm tương đối, phụ thuộc vào năng lượng, trọng lượng và vận tốc của vật thể cũng như vị trí của người quan sát. Trong tương lai, có rất nhiều định lí khoa học, lý thuyết, giả thuyết hay những sự quan sát giúp xây dựng lên một hình ảnh mới về thế giới. Baba Vanga được nhìn nhận như một vị thánh bởi nhiều người, tuy nhiên đối với khoa học, bà ấy là một điều đặc biệt, siêu nhiên mà chưa thể được thấu hiểu. Theo triết gia Stoyu, việc lí giải khả năng siêu nhiên của Vanga sẽ chỉ được thực hiện khi con người sử dụng một cách tiếp cận mới, kết hợp khoa học và các phương pháp bí truyền. Điều này giúp con người tạo ra sự thay đổi mang tính cách mạng trong việc giải thích mọi sự việc diễn ra trên thế giới chứ không chỉ dừng lại ở những vấn đề mang tính quy luật như cách khoa học đang lí giải như ngày nay. Theo Dân Việt

  • Những trường hợp vượt thời gian kỳ lạ

    Cỗ máy thời gian chưa xuất hiện, nhưng vẫn có những trường hợp "vượt thời gian" đầy bí ẩn. Cho đến bây giờ, khoa học vẫn chưa thể đưa ra được bất cứ lý do nào thích hợp để giải thích những trường hợp bí ẩn dưới đây. Các nhà khoa học chỉ có thể sử dụng khái niệm “vượt thời gian” để giải thích cho những hiện tượng này. Sau đây, Thế giới Bí ẩn sẽ giới thiệu đến quý bạn đọc 8 trường hợp "vượt thời gian" chưa có lời giải nổi tiếng thế giới 1. Khách sạn biến mất Một trong những trường hợp nổi tiếng nhất xảy ra vào 10/1979, được đề cập trong chương trình “Strange but True?” (Kỳ lạ nhưng có thật) của mạng truyền hình ITV. Trường hợp này cũng được bàn luận trong chủ đề về “thời gian trượt” trên Wikipedia. Hai cặp vợ chồng người Anh của gia đình Simpsons và Gisbys lái xe qua nước Pháp trên đường đến kỳ nghỉ ở Tây Ban Nha. Họ đã qua đêm ở một khách sạn theo phong cách cổ điển. Trên đường về, họ lại quyết định dừng chân tại chính khách sạn đó, nhưng dường như khách sạn đã biến mất không một dấu vết, và họ không thể tìm lại được. Thậm chí, những bức ảnh được chụp trong thời gian nghỉ tại đó cũng biến mất. 2. Bóng ma ở lâu đài Petit Trianon Sự việc xảy ra vào 10/8/1901 trong khu vườn của lâu đài Petit Trianon, một lâu đài nhỏ nằm trong khuôn viên của lâu đài Versailles, nước Pháp. Đây cũng là câu chuyện của hai người phụ nữ tên là Charlotte Anne Moberly (1846–1937) và Eleanor Jourdain (1863–1924). Trong chuyến thăm tới Versailles, Moberly và Jourdain đã đến lâu đài Petit Trianon, nơi họ trải nghiệm một tình huống được gọi là ’thời gian trượt’ (Time Slip). Tại đây, họ được gặp cố hoàng hậu Marie Antoinette của nước Pháp và nhiều nhật vật từ thời Cách mạng Pháp (1789–1799). Kể lại những trải nghiệm kỳ lạ của mình, Moberly viết: “Mọi thứ đột ngột trở nên không tự nhiên, do đó mà trở thành khó chịu; ngay cả những cái cây dường như cũng bằng phẳng và không có sức sống, giống như gỗ trên tấm thảm vậy. Không hề có các hiệu ứng ánh sáng và bóng râm, và cũng không có cơn gió nào khuấy động tán cây”. 3. Chiếc đồng hồ bí ẩn 12/2008 tại huyện Thượng Tư, phía nam Trung Quốc, các nhà khảo cổ Trung Quốc vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện một chiếc đồng hồ có khắc chữ "Thụy Sĩ" trong cỗ quan tài 400 năm tuổi từ thời nhà Minh. Chiếc đồng hồ được làm bằng kim loại, kim giờ và phút trên đó dừng lại ở mốc thời gian 10 giờ 6 phút. Điều kỳ lạ là đồng hồ chưa từng xuất hiện trong thời đại nhà Thanh, một chuyên gia cho biết. 4. Chuyến bay của Victor Goddard Victor Goddard (1897-1987) là một chỉ huy cao cấp trong Không quân Hoàng gia Anh vào Thế chiến II. Năm 1935, khi đang lái máy bay ông bất ngờ gặp một cơn bão bất thường rồi bị lạc vào một sân bay bỏ hoang ở Edinburgh. Ban đầu, ông gần như mất kiểm soát, nhưng khi lấy lại bình tĩnh và nhìn xuống phía dưới, ông vô cùng ngạc nhiên thấy sân bay lúc trước đã được tân trang lại hoàn toàn khác biệt. Goddard nhìn thấy các máy bay trông lạ mắt, còn đội quân hoàng gia thì hối hả làm việc trong các bộ quân phục màu xanh. Khi trở về, ông kể lại những trải nghiệm kỳ lạ của mình, nhưng không có bất cứ một dấu hiệu nào về chiếc sân bay lạ nói trên. Bốn năm sau đó, Goddard lại gặp lại chính cảnh tượng quen thuộc mà ông đã nhìn thấy lúc trước. 5. Du khách xuyên thời gian Tấm ảnh chụp năm 1941 trở nên nổi tiếng vì xuất hiện một người đàn ông lạ. Trong ảnh là người đàn ông mặc áo phông, đeo kính mát, ăn mặc giống như người hiện đại, hoàn toàn khác với phong cách những năm 1940. Bức ảnh được đặt tên là “Time Traveling Hipster”, từng được lưu giữ tại Bảo tàng Bralorne Pioneer và đã gây ra nhiều cuộc tranh luận về nhân vật kỳ lạ trong bức ảnh này. 6. Tai nạn của Rudolph Fentz Sự việc xảy ra vào một buổi tối giữa tháng 6/1950. Vào lúc hơn 11 giờ đêm, các hành khách trên Quảng trường Thời đại ở New York để ý thấy một người đàn ông khoảng 30 tuổi, ăn mặc theo phong cách từ cuối thế kỷ 19. Không ai biết bằng cách nào ông xuất hiện tại đây. Bản thân ông cũng có vẻ bối rối khi đứng giữa đoạn giao lộ. Sau đó, ông bất ngờ bị một chiếc taxi đâm vào và tử vong tại chỗ. Khi các quan chức khám nghiệm tử thi, họ tìm thấy trong túi của ông có nhiều vật lạ không rõ nguồn gốc. Trong đó có một tấm thẻ đồng mang tên một quán rượu – không ai biết về cái tên này, ngay cả những người lớn tuổi trong thành phố; khoảng 70 đô la loại tiền cũ; tấm danh thiếp mang tên Rudolph Fentz có địa chỉ tại đại lộ số 6 (Fifth Avenue); một lá thư từ Philadelphia gửi tới địa chỉ này có đề ngày tháng từ 6/1876. Tất cả những vật dụng này đều không hề có dấu hiệu cũ nát theo thời gian. Một cuộc điều tra đã được tiến hành, sau đó người ta tìm được cô con dâu của Rudolph Fentz sống tại Florida. Bà kể rằng cha chồng bà đã mất tích một cách bí ẩn từ năm 1876, khi đó mới 29 tuổi. Buổi tối hôm đó, ông ra ngoài đi dạo nhưng không bao giờ quay trở về nữa. Sau khi các nhà điều tra tìm kiếm hồ sơ về người đàn ông tên là Rudolph Fentz mất tích năm 1876, họ ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi mô tả, từ tuổi tác, ngoại hình, cho đến trang phục đều trùng với người đàn ông trên Quảng trường Thời đại năm 1950. 7. Đĩa CD từ những năm 1800 Đây là bức vẽ được thực hiện từ những năm 1800. Trong tranh, nhà lãnh đạo Joseph Smith đang giới thiệu “những tấm bảng vàng” cho 8 người quanh ông. Có thể thấy trên tay ông đang cầm 2 chiếc đĩa CD-room mà mãi đến năm 1980 mới được phát minh. 8. Chiếc điện thoại di động đầu tiên? Chiếc điện thoại di động đầu tiên trên thế giới chính thức ra đời vào năm 1973, do nhà sáng chế John F. Mitchell và Martin Coopertạo ra và có tên là Motorola Dyna Tac. Dù rất cồng kềnh nhưng đó được coi là bước đột phá trong linh vực truyền thông của nhân loại. Tuy nhiên, đào lại quá khứ, người ta phát hiện ra một đoạn video gây sốc. Đây là đoạn video được ghi lại trong năm 1928, tức là trước khi chiếc điện thoại di động đầu tiên ra đời đến 45 năm. Thế nhưng điều kỳ lạ là người phụ nữ di chuyển từ góc phải màn hình dường như lại "sở hữu" trước một cái cho riêng mình. Cô ta cầm một vật nhỏ gọn, vừa trong lòng bàn tay (thứ mà nhiều người cho là điện thoại di động) và vừa di chuyển trong suốt khung hình. Đây thực sự là một "nút thắt" khó giải thách thức bất kỳ nhà nghiên cứu nào. Nếu vật thể trên không phải điện thoại cầm tay thì nó là gì mà lại được sử dụng giống đến vậy? Còn nếu nó đúng là điện thoại di động thì tại sao lại có mặt ở thời điểm đó? Phải chăng du hành vượt thời gian về quá khứ là câu trả lời thích đáng duy nhất cho trường hợp này? Cập nhật: 22/04/2022 Theo Khoahocthuvi/soha

  • Có hay không hiện tượng du hành vượt thời gian?

    Không phải chỉ mới đây mà ngay từ rất nhiều thập niên xa xưa, con người đã nghĩ đến việc du hành vượt thời gian. Đây là một vấn đề hấp dẫn và cũng vô vàn bí ẩn cho giới khoa học. Trong khi thế giới ghi nhận nhiều câu chuyện bí ẩn, ly kỳ về những người rơi vào lỗ thủng thời gian giống như truyện cổ Từ Thức gặp tiên thì ở diễn biến khác, có những người lại có khả năng chuyển động vượt thời gian để đến thế giới tương lai... Chính nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking cũng tin rằng “hố đen” có thể giúp con người du hành vượt thời gian, và ngay cả thuyết tương đối của Einstein cũng tiết lộ rằng con người có thể có khả năng này. Thắng liên tiếp 126 phiên chứng khoán nhờ… đến từ tương lai Chính trường hợp kỳ lạ của Andrew Carlssin, một nhà du hành vượt thời gian đến Trái Đất từ năm… 2256, là một minh chứng. Năm 2003, một người đàn ông có tên Andrew Carlssin đã bị FBI tiến hành điều tra, vì nghi ngờ đã gian lận trong các giao dịch chứng khoán. Theo Ủy ban Giao dịch Chứng khoán của Mỹ cho biết, không rõ vì sao mà chỉ trong hai tuần, tài khoản của Carlssin đã tăng từ 800 USD lên 350 triệu USD. Andrew Carlssin đã đầu tư vào các phiên giao dịch cổ phiếu có mức rủi ro cao, và chiến thắng một cách thần kỳ tất cả 126 phiên giao dịch mà không mắc bất kỳ một lỗi nào. Trong khi những người chơi cổ phiếu lớn nhất Phố Wall đã phải chịu những tổn thất lớn do biến động thị trường. Việc Carlssin thu được những khoản lợi khổng lồ trong thời gian ngắn, đã khiến những người chơi cổ phiếu nghi ngờ rằng có điều gì đó không bình thường với Carlssin. Sau 4 giờ thẩm vấn, Carlssin thừa nhận rằng mình đến từ năm 2256, và đã “thấy” trước được những biến động của thị trường chứng khoán để đầu tư thu lợi. Để chứng minh mình đến từ tương lai, Carlssin đưa ra dự đoán về ngày bắt đầu cuộc tấn công Iraq, và ông đã dự đoán chính xác. Carlssin cũng tiết lộ thông tin về nơi ẩn náu của trùm khủng bố Osama Bin Laden, và về phương pháp điều trị bệnh AIDS. Yêu cầu duy nhất của Carlssin là được tự do để có thể quay trở lại cỗ máy thời gian của ông ta. Khi được hỏi về vị trí của cỗ máy thời gian, Carlssin từ chối cung cấp thông tin cũng như về việc nó hoạt động như thế nào, vì e ngại rằng công nghệ này có thể sẽ rơi vào tay người xấu. Tất nhiên FBI đã tin vào câu chuyện của Carlssin, vì đã không thể lần ra thông tin về Carlssin trước năm 2002, hình như Carlssin chưa bao giờ tồn tại trước thời điểm đó. Tuy nhiên, ngay sau đó, câu chuyện cũng như sự tồn tại của Andrew Carlssin bỗng nhiên biến mất khỏi giới truyền thông, không có mặt báo nào đề cập đến thông tin đó nữa. Thế giới bao la vô cùng vô tận của chúng ta có muôn vàn điều bí ẩn mà đến nay các nhà khoa học cũng không đưa ra được lý giải thuyết phục. Người đi về… tương lai của hơn 800 năm sau Trường hợp của Andrew Carlssin là chuyện người đến từ… tương lai. Nhưng trường hợp của Al Bielek người Mỹ, sinh năm 1927, lại vô cùng khác, vì ông là người đi về… tương lai của hơn 800 năm sau. Al Bielek khẳng định rằng ông đã tham gia vào nhiều dự án nghiên cứu của quân đội Mỹ. Năm 1943, ông tham gia vào một thí nghiệm mà vẫn đang còn nổi tiếng đến tận ngày nay, thí nghiệm Philadelphia. Đó là thí nghiệm làm một tàu chiến có tên USS Eldridge có thể “dịch chuyển tức thời”, tức là từ một địa điểm này sang một địa điểm ở xa khác. Trong lần thí nghiệm thứ nhất chiếc tàu đã có thể dịch chuyển tức thời, nhưng một số thành viên của đoàn thủy thủ đã bị bệnh. Trong lần thí nghiệm thứ hai, thảm họa đã xảy đến với rất nhiều thành viên trong đoàn thủy thủ, nhiều người chết, nhiều người không còn tỉnh táo như bình thường, do hệ quả của việc dịch chuyển tức thời. Chi tiết về dự án này đã được giữ bí mật. Theo Al Bielek, đó là do những ảnh hưởng về mặt sinh học lên những người tham gia thí nghiệm. Al Bielek nói rằng, ông không thể nhớ chuyện gì đã xảy ra, mãi cho đến hơn 40 năm sau, tháng 1 năm 1988, khi tình cờ xem một bộ phim được dựng trên viễn cảnh thí nghiệm Philadelphia thì trí nhớ của ông bắt đầu hồi phục nên quyết định chia sẻ những trải nghiệm của mình. Chuyện của Al Bielek kể không chỉ lôi cuốn, mà còn được kiểm nghiệm thực tế và nhiều điều sau đó đã trở thành hiện thực. Al Bielek chia sẻ rằng, ông đã tới tương lai và sống ở đó trong vòng hơn 2 năm mà cụ thể là đã sống 6 tuần tại năm 2173 và hai năm tại thời điểm 2749 - 2750. Al Bielek cũng cho biết về những thay đổi địa lý trên trái đất vào thời gian đó với mực nước biển tăng khiến bờ biển của Mỹ và châu Âu rất khác với hiện nay, khi đó Florida đã chìm dưới nước, chỉ còn lại một dải đất hẹp, Atlanta, Georgia chỉ còn lại 3 km đất liền. Sông Mississippi đã trở thành một đường thủy nội địa, còn Ngũ Đại Hồ tức Great Lakes thì trở thành một hồ nước rất lớn. Vào năm 2749 thì người dân còn sống cả ở các thành phố trên không. Các thành phố trên không này không cố định mà có thể di chuyển mọi nơi trên thế giới. Chính nhà vật lý thiên tài Stephen Hawking cũng tin rằng “hố đen” có thể giúp con người du hành vượt thời gian, và ngay cả thuyết tương đối của Einstein cũng tiết lộ rằng con người có thể có khả năng này. Thời gian có thực sự tồn tại? Xưa, vào thời kỳ mà tôn giáo còn nắm trong tay nhiều ưu thế, khá nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã lý giải rất sâu sắc về thời gian và cho rằng, ngoài thời gian của loài người, có một cảnh giới khác mà cái nhìn ở đó có thể đồng thời thấy được cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Còn theo quan điểm chung của con người hiện nay về thời gian thì đó là một thể liên tục theo trình tự quá khứ - hiện tại - tương lai, cùng với các sự kiện xảy ra một cách tuần tự không thể đảo ngược, sự tồn tại của thời gian là một điều rất hiển nhiên, nó cứ trôi đi tuần tự một chiều như vậy. Tuy nhiên, trong giới vật lý học lại có quan điểm khác, họ cho rằng thời gian không hề tồn tại, nó chỉ là một sản phẩm tự hình thành trong quá trình sống, rồi định lại trong ý thức của con người mà minh chứng là thời gian bên người yêu thương sao thấy quá ngắn, nhưng nếu phải chờ đợi ai đó hoặc điều gì đó thì lại thấy là quá dài. Thực tế là thời gian không trôi hay đi qua, nó đơn giản là tồn tại ở đó, hôm qua vẫn là hôm qua, ngày mai vẫn là ngày mai, là một hằng số như vậy chứ không có sự trôi đi như chúng ta nghĩ. Như Einstein từng nói: “Sự khác biệt giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai chỉ là một ảo tưởng dai dẳng đến ngoan cố”. Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới về lĩnh vực công nghệ đã tổ chức một hội nghị vật lý, có mời tất cả những người nói rằng họ đến từ tương lai, điều đó chứng tỏ rằng vị “đại gia” về công nghệ này cũng đã có ý tưởng nghiên cứu về khả năng du hành trong thời gian. Và đừng quên rằng trước kia, Einstein, và sau này là Hawking, hai nhà vật lý lỗi lạc nhất mọi thời đại, cũng tin rằng con người có thể du hành trong thời gian. Vào khoảng giữa thế kỷ 20, hai nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng người Mỹ là John Archibald Wheeler (1911 - 2008) và Bryce Dewitt (1923 - 2004) đã nghiên cứu về hố đen và đưa ra một phương trình có tên “phương trình Wheeler - Dewitt” để chứng minh rằng thời gian tồn tại theo một cách thức hoàn toàn khác, nhưng đáng tiếc là các nhà khoa học thời đó đã không chấp nhận. Còn tại Geneva (Thụy Sĩ), CERN (Conseil Européen pour la Recherche Nucléaire, tức Hội đồng Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu) đã tiến hành các thí nghiệm để tạo ra những lỗ đen nhỏ có thể áp dụng cho việc du hành trong thời gian. Gần đây nhất, TS. Ronald Mallet, sinh năm 1945, là giáo sư vật lý lý thuyết và viện sĩ hàn lâm thuộc Đại học Connecticut (Mỹ) đã sử dụng công thức của Einstein và kiến thức về chùm laser của ông để tạo ra một cỗ máy thời gian. Ông dự đoán rằng con người có thể tạo ra các cỗ máy để du hành thời gian trong vòng 10 năm tới. Mươi năm nữa cũng chẳng phải là lâu, chúng ta cứ chờ đợi để xem điều gì sẽ xảy ra. Theo khoahoc.tv

  • Vạn lý Trường thành, công trình thế kỷ có một không hai.

    Vạn Lý Trường Thành là bức tường thành bằng đất và đá nổi tiếng của Trung Quốc được xây dựng liên tục từ thế kỷ 5 TCN tới thế kỷ 16. Nó được dùng để bảo vệ đế quốc Trung Hoa khỏi những cuộc tấn công của người Hung Nô, Mông Cổ và những bộ tộc du mục khác. Hiện nay, đây được coi là công trình biểu tượng cho nền văn hóa Trung Quốc. 1. Vạn Lý Trường Thành nằm ở tỉnh nào của Trung Quốc? Nếu bạn là người yêu thích khám phá, du lịch mà không biết Vạn Lý Trường Thành ở đâu thì quả là một điều đáng tiếc. Đây là một trong những công trình nổi tiếng bậc nhất tại Trung Quốc, được vinh danh là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới vào năm 1987. Trải qua hơn 2300 năm, công trình này vẫn “trường tồn” với thời gian và trở thành một địa đến không thể bỏ qua khi bạn có cơ hội đặt chân tới Trung Quốc. Tuy nhiên, Vạn Lý Trường Thành nằm ở tỉnh nào của Trung Quốc không phải ai cũng biết rõ. Thực tế, có rất nhiều người lầm tưởng rằng, Vạn Lý Trường Thành là một công trình ở TP. Bắc Kinh. Nhưng thực chất thì không phải vậy. Vạn Lý Trường Thành là danh xưng để ám chỉ một bức tường thành kéo dài vạn dặm. Bởi vậy nó không thể tọa lạc cổ định tại một tỉnh hay thành phố nào ở Trung Quốc. Theo nhiều nghiên cứu, chiều dài thực tế của công trình này là khoảng hơn 20 nghìn Km, nó đi qua tổng cộng 15 tỉnh của Trung Quốc. Với cửa ải đầu tiên tọa lạc tại tỉnh Niêu Linh, kéo dài mãi tới tận biển đông - Biên giới của Hàn Quốc. 2. Ai là người xây dựng Vạn Lý Trường Thành? Nói đến sự tồn tại của Vạn Lý Trường Thành, công trình này bắt đầu được đặt nền móng vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc (năm 221 TCN). Tuy nhiên, vào thời điểm này, Trường Thành chỉ là những bức tường riêng rẽ được đắp bởi các nước như Yến, Tề, Hán,.. với mục đích phân chia ranh giới, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ cũng như ngăn chặn sự xâm nhập của các nước tư thù. Mãi cho tới khi vua Tần Thủy Hoàng thống nhất đất nước, những bức tường thành riêng rẽ đó mới được tập hợp lại và nối dài ngàn dặm. Tuy nhiên, công trình xây dựng thành này chưa dừng lại tại đó. Sau khi nhà Tần diệt vong, các triều đại kế tiếp của Trung Quốc đã tiếp tục thay nhau thực hiện công việc này. Thực tế, người góp công lớn xây dựng tường thành chính là Tần Thủy Hoàng. Câu chuyện đằng sau việc vì sao Tần Thủy Hoàng lại tập hợp các bức tường thành riêng rẽ được gây dựng từ thời Chiến Quốc bắt nguồn từ một lời bịa đặt. Cụ thể, để hiểu rõ nguồn gốc của Vạn Lý Trường Thành, chúng ta hãy cùng tìm hiểu vua Tần Thủy Hoàng! 3. Thời gian xây thành Vạn Lý Trường Thành Ước tính kéo dài hơn 2300 năm, đi qua các triều đại của Trung Quốc. Cho tới tận thời nhà Minh, công cuộc xây dựng này mới thực sự được hoàn thành. 4. Tần Thủy Hoàng là ai? Tần Thủy Hoàng có tên là Doanh Chính, ông sinh vào năm 259 TCN và mất vào năm 210 TCN. Ông bắt đầu đăng quang vào năm 246 TCN, tự phong là Thủy Hoàng Đế thời gian Tần Thủy Hoàng cai trị đất nước là khoảng 36 năm. Ngoài ra, Tần Thủy Hoàng cũng được mệnh danh là vị vua đầu tiên thống nhất được đất nước (221 TCN), sau khi đánh bại các nước chư hầu. Sau khi lên ngôi vua, Tần Thủy Hoàng ngay lập tức ban hành nhiều chiết sách mang tính lịch sử, bao gồm cả việc xây dựng Trường Thành. Nhiều người nghĩ rằng, Vạn Lý Trường Thành được xây dựng để ngăn chặn sự xâm lược của các nước tư thù, củng cố hệ thống phòng thủ, là nơi giao thương hàng hóa,...Tuy nhiên, sự thật chưa hẳn đã là vậy. Nguyên nhân sâu xa khiến Tần Thủy Hoàng cho tập hợp các bức tường thành riêng rẽ đó chính là bắt nguồn từ lời “sấm truyền” trong sách tiên tri. 5. Lý do xây dựng Trường Thành Theo các tài liệu lịch sử ghi lại, Tần Thủy Hoàng là một vị vua rất mê tín. Minh chứng là từ việc ông đã sai người đi tìm bằng được thuốc “Trường sinh bất tử”. Đến cả điều này mà vị vua cũng mù quáng thì việc tin vào một lời “sấm truyền” bịa đặt không rõ từ đâu để xây thành dài ngàn dặm là điều quá bình thường. Cụ thể, trong vài năm đầu dưới sự cai trị của Tần Thủy Hoàng, cuộc sống của dân chúng và tình hình đất nước không có mấy sự biển chuyển. Điều này càng làm gia tăng nỗi lo sợ của Tần Thủy Hoàng. Vị vua này lo rằng sẽ có một ngày nhà Tần sẽ rơi vào tay của nhà Hồ. Chính vì vậy, năm thứ 32, Tần Thủy Hoàng đã phái Lô Sinh đi tìm bằng được người có thế tiên đoán được vận mệnh đất nước. Và tất nhiên, hành trình đi tìm “lời tiên tri” của nhà họ Lô này đã thất bại. Khi trở về để không bị trừng phạt, tên này đã thêu dệt lên những lời bịa đặt và nói rằng tương lai của nhà Tần sẽ trở nên tốt đẹp và phát triển. Tuy nhiên, đây không phải là những lời mà Tần Thủy Hoàng muốn nghe, điều ông muốn biết là làm thế nào có thể củng cố được chính quyền. Một lần nữa, Tần Thủy Hoàng lại bắt Lô Sinh đi tìm “thần tiên” có thể gỡ rối những thắc mắc trong lòng ông bất lâu nay. Sau nhiều lần “Xôi hỏng bỏng không”, cuối cùng Lô Sinh cũng đã mang về một cuốn sách, được hắn ta gọi là “Sách tiên”. Trong cuốn sách này xuất hiện dòng chữ khiến Tần Thủy Hoàng vô cùng hoảng sợ và đã hạ lệnh ngay cho binh lính đi xây dựng thành. Đó chính là “Vong Tần giả Hồ dã”, có nghĩa là “Tần mất do Hồ”. Vào thời bấy giờ, nhà Hồ hay còn có tên gọi khác là quân Hung Nô. Đây là một nước Phương Bắc có mối tư thù không xóa bỏ với nhà tần. Cũng vì lời tiên tri không rõ đúng sai này, Tần Thủy Hoàng đã phái tướng lĩnh cùng 30 nghìn binh sĩ tiến đánh Hung Nô. Tuy đã giành được thế chủ động, nhưng Tần Thủy Hoàng chưa thể nguôi quai. Và từ đó, tường thành được xây dựng để ngăn chặn sự xâm lược của các nước Phương Bắc, cụ thể là giặc Hung Nô. Công trình đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu dân khổ sai, nô lệ, người dân nghèo, nho sĩ phạm tội, tù nhân,... là những đối tượng chính bị bắt đi xây dựng thành. Quá trình xây dựng thành là một công việc vô cùng vất vả và nguy hiểm. Địa hình nơi đây rất hiểm trở, có nơi được xây dựng trên vách núi cheo leo, nơi thì là dòng sông chảy xiết, có những nơi lại là tàn sa mạc, với cái nóng cháy da cháy thịt. Những người phải bỏ mạng khi đang xây dựng thành nhiều vô số kể. Có người nói rằng, Vạn Lý Trường Thành không chỉ là bức tường dài nhất thế giới mà còn là “Nghĩa địa dài nhất nhân loại”. Những người lao động khổ sai phải làm việc từ sáng tới tờ mờ tối, không kể nắng mưa, rét buốt, giông bão. Dưới sự giám sát của binh lính, bất kỳ sự phản kháng hay lười biếng sẽ đều bị “ăn” ngàn roi găm. Nguyên liệu xây thành thời xưa đều là những vật liệu cơ bản như đá, đất, vôi. Để có được những nguyên liệu này, họ phải di chuyển một quãng đường rất xa và vô cùng vất vả mới mang được vật phẩm về. Họ đã tính toán làm sao giảm được sức lực để vận chuyển thấp nhất có thể, từ việc tận dụng sức kéo của trâu, bò, ngựa,... hay lấy gỗ làm đòn bẩy,.... Những người này phải đi đầy suốt 10 năm trời, làm việc dưới thời tiết khắc nghiệt lại còn thường xuyên bị đánh đập, ốm không có thuốc thang. Nên đa phần họ đều xác định đã đi tới đây thì sẽ không có ngày trở về. Đằng sau một công trình tráng lệ, hùng vĩ là niềm tự hào của nhân dân Trung Hoa là những câu chuyện cay đắng, nói lên sự tàn bạo của thế lực vua quan thời xưa. 6. Nguyên liệu bí mật xây thành Thời đó, những nguyên liệu xây thành đều là vật liệu hết sức thô sơ và cơ bản. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tự hỏi vì sao, chỉ với đất, đá, vôi để xây mà Tường Thành vẫn đứng “sừng sững” qua hàng ngàn năm như vậy? Phải chăng là có bí quyết? Theo các nghiên cứu khảo cổ của các nhà khoa học, người ta đã phát hiện ra một nguyên liệu vô cùng đặc biệt trong lớp vữa trên những viên gạch xây thành, đó chính là gạo nếp. Đây là một phát hiện mang tính lịch sử được các nhà khoa học công bố. Những công nhân xây dựng thành thời xưa đã trộn gạo nếp với vôi để tạo thành một hợp chất có khả năng kết dính các viên gạch với nhau và tạo ra một loại vữa vô cùng đặc biệt. Theo Zhang - Một chuyên gia về hóa học cho biết: Trong thành phần của gạo nếp có chứa một hợp chất có tên gọi là amylopectin. Chất này có cấu trúc cực kỳ kết dính, bền bỉ và vững chắc hơn bất kỳ nguyên liệu nào có thể dùng ở thời đó. Vì vậy mới hiểu vì sao, Tường Thành qua bao nhiêu năm vẫn “trường tồn”. 7. Ý nghĩa của việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành Tồn tại 2300 năm, Vạn Lý Trường Thành mang một ý nghĩa vô cùng to lớn về mặt lịch sử, văn hóa của người dân Trung Hoa. Công trình này đã chứng kiến sự tồn tại của lịch sử Trung Quốc qua nhiều thời kỳ, là minh chứng hùng hồn cho tài năng, sáng tạo, ý chí bền bỉ của người phong kiến nói riêng và nhân dân Trung Hoa nói chung. Không chỉ mang ý nghĩa về quân sự, là hệ thống phòng thủ vững chãi giúp các triều đại của Trung Quốc giữ nguyên được bờ cõi, mà Vạn Lý Trường Thành còn đóng vai trò như nơi giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa với các nước láng giềng. Năm 1987, Vạn Lý Trường Thành đã trở thành niềm tự hào không chỉ của người dân Trung Hoa mà còn được sự tán thưởng của thế giới khi được Liên Hiệp Quốc công nhận là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Cho tới nay, Vạn Lý Trường Thành vẫn là công trình vĩ đại nhất, chưa có địa danh nào được xóa ngôi vương này. Để xây dựng Vạn Lý Trường Thành, không chỉ tiêu tốn nguồn ngân sách khổng lồ mà ở đó còn là sức lực, mồ hôi và cả máu của hàng triệu lao động. Bởi vậy, người dân Trung Quốc đã coi đây như một báu vật vô giá, họ đã cho tu sửa, bảo dưỡng để trở thành địa điểm tham quan cho du khách quốc tế muốn tới chiêm ngưỡng. Hàng năm, Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc đón hàng vạn du khách tới tham quan, trở thành một địa đến không thể bỏ qua khi du lịch Trung Quốc. 8. Sự thật ít người biết đến về Vạn Lý Trường Thành Vạn Lý Trường Thành là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới. Người Trung Quốc nói rằng, nếu bạn chưa đi hết Vạn Lý Trường Thành thì không phải là một người đàn ông đích thực. Xây dựng tường thành là hình phạt cho phạm nhân: Việc xây dựng tường thành là hình phạt phổ biến được người xưa áp dụng cho các tù nhân phạm tội trốn thuế hay giết người. Để phân biệt họ với binh lính, nô lệ, dân nghèo, những tên phạm nhân này được cạo đầu, bôi đen mặt rồi trói tay chân tạo thành một chuỗi người. Vạn Lý Trường Thành có chiều dài thực là 21.196km. Những đoạn tường thành được gây dựng đầu tiên vào thời Xuân Thu hay thời Tần được làm chủ yếu bằng đất, đá. Cho tới thời nhà Minh mới được xây bằng gạch. Vì những người hy sinh trong quá trình xây dựng thành quá nhiều. Nên người ta đồn rằng, xác của họ được hòa vào vôi, đá để xây thành. Nhưng thực chất vừa được làm từ gạo nếp. Dọc theo chiều dài của Vạn Lý Trường Thành có sự xuất hiện rất nhiều của các tháp canh, cầu thang, tháp đèn tín hiệu, khu vực hậu cần,...Chiều cao trung bình của Vạn Lý Trường Thành là 7-8m, chiều rộng khoảng 5-9m. Những bức tường thành được gây dựng từ giai đoạn đầu hầu như đã bị phá hủy. Nhiều nhà giả học cho rằng, Vạn Lý Trường Thành có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Tuy nhiên điều này đã bị phác bác sau chuyến du thám không gian lần đầu tiên của loài người. Vạn Lý Trường Thành có rất nhiều tên gọi như "thành lũy", "rào chắn", "pháo đài",...Năm 1605, sau sự tồn tại hơn 2 ngàn năm, Bento de Gois - Một người thám hiểm người Bồ Đào Nha đã đặt chân tới đây đầu tiên. Ước tính có tới 30% di tích đã bị biến mất hoàn toàn do sự tàn phá của thời tiết và con người. 9. Cảm nhận Vạn Lý Trường Thành Khi du lịch Vạn Lý Trường Thành, bạn sẽ có thể khám phá vô số địa điểm ấn tượng tại đây như: Sơn Hải Quan: Đây là cửa ải đầu tiên của tường thành, nơi duy nhất hướng ra biển. Nơi đây có phong cảnh vô cùng đẹp, hài hòa giữa núi non, biển cả và bầu trời. Bởi vậy, Sơn Hải Quản là cửa ai thu hút nhiều lượt khách tham qua nhất khi tới Vạn Lý Trường Thành. Badaling: Khu vực tường thành này có lượng du khách tới tham quan rất đông. Sau quá trình trùng tu lại vào năm 1957, nơi đây đã mở cửa cho khách tham quan tới khám phá. Badaling có địa hình rất đẹp, không khí thoáng đãng, xung quanh được bởi bọc bởi rừng cây, đồi núi trập trùng tạo nên một bức tranh phong cảnh cuốn hút bất cứ du khách nào tới đây. Để trải nghiệm này của bạn thêm trọn vẹn, hãy thử dịch vụ đi cáp treo để được chiêm ngưỡng cảnh vật tường thành từ trên cao nhé. Chắc chắn sẽ mang lại cho bạn nhiều cảm hứng thú vị đó! Để đến được Badaling, từ Bắc Kinh, du khách có thể di chuyển trên xe bus 877 từ trạm Deshengmen, dừng chân tại B2 Jishuitan. Giá vé mỗi chuyến là 12RMB, tương đương với khoảng 40 ngàn đồng tiền Việt Nam nhé! Nếu không muốn đi xe bus, Ximgo sẽ gợi ý cho bạn một loại phương tiện có thể di chuyển tới khu vực Badaling nữa đó là xe lửa. Để bắt được chuyến tàu này, bạn có thể di chuyển đến ga Huangtudian, giá vé là 6 RMB, tương đương với 20 nghìn đồng tiền Việt Nam. Mutianyu: Khu vực tường thành này cũng đã được trùng tu và cho du khách tham quan từ rất lâu. Ở đây có những trải nghiệm du khách không nên bỏ qua như đi cáp treo, trượt xe ngắm núi,...Để đến được Mutianyu, du khách sẽ mất khoảng 30 phút di chuyển từ Bắc Kinh và qua 2 chặng xe bus. Đầu tiên du khách sẽ phải bắt xe bus từ cửa E của trạm Dongzhimen hoặc lựa chọn di chuyển nhanh hơn bằng xe bus 916, sau đó sẽ phải bắt thêm một xe khác là H23, H24, H35 và H36 tại Mutianyu. Giá vé của mỗi chuyến xe bus là 20RMB, rơi vào khoảng 69 nghìn đồng tiền Việt Nam. Nhạn Môn Quan: Đây là cửa quan đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tuyến phòng thủ của Vạn Lý Trường Thành. Vốn có tên gọi là Tây Kinh, sau đó cửa ai này đã được đổi tên thành Nhạn Môn Quan. Cảnh quan nơi đây được bao phủ bởi rừng núi, xanh mát vào mùa hè, ngập tràn sắc màu vào mùa xuân, khung trời vàng rượi vào mùa thu và lạnh thấu xương vào mùa đông. Gia Dục Quan: Địa hình xung quanh đây tàn sa mạc và cát trắng. Những bức tường thành được xây dựng trên nền cát tạo thành một bức tranh vô cùng sống động và tráng lệ. 10. Thời gian thích hợp đi Vạn Lý Trường Thành Khí hậu ở Vạn Lý Trường Thành được phân rõ thành 4 mùa: Xuân - Hạ - Thu - Đông. Bạn có thể tới đây bất kể mùa năm trong năm, bởi mùa nào cũng có cái hay, cái đặc biệt cần khám phá. Tuy nhiên theo kinh nghiệm du lịch Vạn Lý Trường Thành của Ximgo thì mùa Xuân và mùa Thu là hai mùa được nhiều du khách lựa chọn nhất. Mùa hè ở Vạn Lý Trường Thành có nền nhiệt khá cao, có hôm lên tới 37 độ C. Dưới cái nắng oi ả ấy, nếu bạn không bảo vệ tốt cho làn da của mình thì sau hành trình này chắc bạn sẽ phải đi tắm trắng mất. Trái ngược với cái nóng oi ả mùa hè là cái rét thấu xương của mùa đông ở Vạn Lý Trường Thành. Nhiệt độ mùa đông ở đây có khi xuống dưới - 15 độ C, khí hầu vô cùng khắc nghiệt, do đó nếu đi du lịch vào khoảng thời gian này bạn đừng quên mang theo áo ấm nhé! Giống như nhiều địa điểm du lịch khác, mua thu trên Vạn Lý Trường Thành vô cùng thơ mộng và cổ kính. Khi đến Vạn Lý Trường Thành vào thời gian này, du khách không chỉ được tận hưởng không khí mát mẻ, dễ chịu mà còn được chiêm ngưỡng rất nhiều cảnh đẹp lý thú. Hai bên tường thành đều là rừng cây sẽ đồng loạt thay màu áo mới, một sắc vàng trải khắp đất trời như tô thêm nét cổ kính, hoang sơ giữa muôn trùng núi non hùng vĩ. Thời điểm mùa xuân trên Vạn Lý Trường Thành cũng vậy, không khung trời ngập tràn sắc màu. Tuy nhiên, tiết trời vẫn sẽ hơi lạnh do còn dư âm của mùa đông, nên bạn cũng đừng quên chuẩn bị áo ấm nhé! Ở Trường Thành lúc nào cũng có rất nhiều người đi qua lại. Vì vậy để tránh đám đông không lọt vào khung hình của bạn, du khách có thể tham quan một số khu vực tường thành vắng bóng người hơn như Kim Sơn Lĩnh hay Hoàng Hoa Thành. Hai khu vực này có ít người qua lại không có nghĩa là không có gì để ngắm đâu nhé. Cảnh quan xung quanh vô cùng đẹp, thừa sức để cho bạn những tấm hình đẹp mang về sống ảo nhé! Trên đây là tất tần tật thông tin bạn nên biết khi đến Vạn Lý Trường Thành. Hy vọng những chia sẻ này sẽ khiến bạn càng thêm yêu địa danh nổi tiếng này! Nguồn ảnh: Pinterest

  • Bí ẩn Lăng mộ Võ Tắc Thiên và những điều chưa biết.

    Bí mật về bia không chữ, tượng mất đầu ở lăng mộ Võ Tắc Thiên Võ Tắc Thiên là nữ Hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc. Bà đã tận hưởng tất cả vinh quang và sự giàu có trong cuộc đời và sau khi bà qua đời, lăng mộ đặc biệt của bà cũng rất được quan tâm. Võ Tắc Thiên (tên thật không được ghi lại) sinh năm 624 và được vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân triệu vào cung, phong làm tài nhân khi mới 14 tuổi. Sau đó bà trở thành Hoàng hậu thứ hai của Đường Cao Tông Lý Trị, con của vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân. Sau khi Đường Cao Tông qua đời vào năm 683, Võ Tắc Thiên (khi đó lấy tôn hiệu Thiên hậu) từng là Hoàng thái hậu và cuối cùng trở thành Hoàng đế duy nhất của triều đại Võ Chu, triều đại mà bà sáng lập tồn tại từ năm 690 đến năm 705. Võ Tắc Thiên là nữ Hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc và trong 15 năm cai trị (từ năm 690 - 705) với tôn hiệu Thánh Thần Hoàng đế, Võ Tắc Thiên đã góp phần mở mang lãnh thổ Trung Quốc, tập trung phát triển kinh tế, khuyến khích phát triển Phật giáo. Võ Tắc Thiên cùng 2 vị Nữ hoàng không ngai khác là Lã hậu và Từ Hi Thái hậu được coi là 3 người phụ nữ nắm quyền lực tối cao nhất từng xuất hiện trong các triều đình phong kiến Trung Hoa. Tuy nhiên, việc Võ hậu lên nắm quyền cai trị đất nước bị các nhà sử học Nho giáo chỉ trích mạnh mẽ. Lại thêm tính cách độc ác, hà khắc của bà khiến đông đảo cựu thần nhà Đường không phục. Đầu năm 705, Tể tướng Trương Giản Chi cùng các đại thần phát động binh biến, ép Võ hậu thoái ngôi và đưa con trai bà là Đường Trung Tông Lý Hiển lên ngôi. Võ Tắc Thiên bị giam lỏng ở Lạc Dương và qua đời vào cuối năm 705, thọ 81 tuổi. Bà là một trong 3 vị Hoàng đế Trung Hoa có tuổi thọ cao nhất trong lịch sử. Sau khi Võ Tắc Thiên qua đời, bà và chồng là Đường Cao Tông được chôn cất tại Càn lăng ở tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Sinh thời, Võ Tắc Thiên đã tận hưởng tất cả vinh quang cùng với sự giàu có và sau khi bà qua đời, các thế hệ tương lai vẫn tiếp tục tranh cãi về những việc làm của bà. Tại lăng mộ của bà, tấm bia không chữ hay tượng đá không đầu cũng đủ khiến thế hệ mai sau phải xôn xao bàn tán. Tại Càn lăng, ngoài mộ phần dưới lòng đất của Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên, còn có 17 ngôi mộ nhỏ hơn, hay còn gọi là mộ bồi táng chôn cất thành viên hoàng tộc và các vị anh hùng. Càn lăng là một trong số 18 lăng mộ của nhà Đường được bảo tồn tốt nhất. Tính đến năm 2013, chỉ có 5 ngôi mộ bồi táng đã được khai quật. Cục di sản văn hóa Thiểm Tây từng thông báo rằng sẽ không thực hiện bất cứ cuộc khai quật nào tại Càn lăng trong ít nhất 50 năm tới. Càn lăng ban đầu được bao bọc bởi hai bức tường. Bức tường bên trong kéo dài 1,45 km từ tây sang bắc, 1,58 km từ nam lên bắc, dày 24 mét. Mỗi cổng trong bốn cổng lăng đều có đặt một đôi sư tử đá. Bên ngoài cổng Bắc có ba đôi ngựa đá. Các tác phẩm điêu khắc trên đá tinh tế và trang nhã rải rác khắp nơi trong các khu lăng mộ và vẫn nguyên vẹn sau hơn 1.300 năm. Dọc theo con đường được gọi là trục Thần đạo, du khách sẽ tìm thấy những tượng ngựa có cánh, sư tử, chim đà điểu. Những vị Hoàng đế của Trung Quốc cổ đại muốn cuộc sống dưới lòng đất của họ sẽ thịnh vượng nên họ thường đặt những sinh vật như chim muông, thú dữ trước lăng mộ của họ để canh gác. Mộ phần của Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên nằm sâu bên trong Lương Sơn, cách kinh đô Tây An của nhà Đường khoảng 80 km về phía tây bắc. Không giống như nhiều lăng mộ khác của triều đại nhà Đường, các bảo vật trong lăng mộ hoàng gia của Càn lăng chưa từng bị trộm mộ đánh cắp. Trên thực tế, chỉ riêng trong lăng mộ của Lý Trọng Nhuận (cháu nội của Võ Tắc Thiên), người ta đã tìm thấy hơn 1.000 món đồ bằng vàng, đồng, sắt. Lăng mộ của Lý Hiển (con trai của Võ Tắc Thiên) và công chúa Lý Tiên Huệ (người từng được gả cho Võ Diên Cơ, cháu trai của Võ Tắc Thiên) cũng có hàng nghìn đồ vật trong phần mộ khi được các nhà khảo cổ học khai quật. Tại Càn lăng có một bia đá dành cho Võ Tắc Thiên nhưng điều đặc biệt là tấm bia này không khắc chữ và ngày nay được gọi là Vô tự bia. Bia đá cao 6,3 mét, rộng 2,1 mét và dày 1,5 mét. Có nhiều cách lý giải về Vô tự bia. Cách giải thích đầu tiên đó là, theo quan điểm của Võ Tắc Thiên, những gì bà đã làm không thể được viết chỉ trên một tấm bia. Vì vậy, Võ Tắc Thiên đã để trống bia đá với dụng ý là thành tích của bà vượt xa cách diễn đạt bằng lời nói. Ngoài ra còn có những lời giải thích khác như: Theo di chúc của Võ Tắc Thiên có ghi rằng: "Những thành tựu hay sai lầm của tôi nên được các thế hệ sau đánh giá, vì vậy hãy để trống tấm bia của tôi". Có giả thuyết cho rằng Võ Tắc Thiên hiểu rõ những gì bà đã làm là đi ngược lại truyền thống và biết rằng tốt hơn là không viết bất kỳ chữ nào trên bia đá của mình. Cũng có những suy đoán cho rằng Võ Tắc Thiên tin vào Phật giáo và hiểu rằng sống, chết là chuyện nhỏ, không có đúng hay sai trong cuộc sống của mỗi người. Do đó bà đã để lại tấm bia trống. Tại Càn lăng còn có 61 bức tượng đá có kích thước tương đương người thật. 32 bức tượng ở phía tây và 29 bức ở phía đông. Các bức tượng đứng cạnh nhau, chắp tay trước ngực ngay ngắn và thành kính. Các bức tượng xếp hàng trước lăng và phần lớn đầu của các bức tượng đã biến mất. Các nhà khảo cổ phát hiện ra rằng những tượng đá này có trang phục và ngoại hình rất giống với của người Đông Thổ, vì vậy những tượng đá này có thể là tượng của tù trưởng các dân tộc thiểu số Trung Quốc cổ đại và tượng các sứ thần từ các nước chư hầu. Một giả thuyết cho rằng đầu của những bức tượng đá này đã bị chặt bởi người của nhà Minh. Chuyện kể rằng, vào thời nhà Minh, một sứ thần nước ngoài đã đến thăm viếng Càn lăng và phát hiện ra rằng tổ tiên của ông đã đứng ở đây để canh gác các lăng mộ của Hoàng đế nhà Đường. Người này cảm thấy điều đó vừa bất lợi, vừa làm suy giảm tinh thần của đất nước đồng thời khiến lòng tự trọng của ông bị tổn hại nên ông đã chặt đầu các bức tượng cho hả giận. Bên cạnh đó, một số học giả suy luận rằng đầu của các bức tượng đã bị rơi trong một trận động đất mạnh được ghi lại trong lịch sử vào năm 1556. Trận động đất này là một trong những nguyên nhân chính khiến 61 tượng đá này bị gãy đầu và ngoài các tượng người bằng đá, nhiều tượng ngựa bằng đá ở đây cũng bị hư hỏng phần đầu. Do điều kiện lúc bấy giờ, hầu hết các tượng đá này đều được lấy từ đá tự nhiên nên chất liệu không được chắc chắn. Càn lăng đặc biệt bởi đây là lăng mộ duy nhất trong lịch sử Trung Quốc chôn cất hai vị hoàng đế là Đường Cao Tông và Võ Tắc Thiên. Trong 1.300 năm qua, vô số người đã cố gắng tìm kiếm lối vào cung điện huyền thoại dưới lòng đất này, nhưng những bí mật của lăng mộ vẫn là một bí ẩn. Theo Vĩnh Ngọc, Nguồn: Dân Trí

  • Giải mã bí ẩn Kim Tự Tháp Ai Cập

    Trong nhiều thế kỷ, các kim tự tháp Giza ở Ai Cập đã khiến các nhà nghiên cứu hiện đại rối bời - không chỉ là những mật thất ngầm cùng những bí ẩn xoay quanh, mà còn là cách làm sao người Ai Cập cổ đại có thể xây dựng những công trình ấn tượng như vậy mà không có công nghệ hiện đại. Một trong những vấn đề khó hiểu nhất là làm thế nào 3 kim tự tháp lớn nhất quần thể kim tự tháp Giza lại thẳng hàng đến mức hoàn hảo như vậy. Tại quần thể kim tự tháp Giza, 3 kim tự tháp lớn nhất là Khufu, Khafre và Menkaure không những nằm thẳng hàng tuyệt đối với nhau trên mặt đất, mà chúng còn thẳng hàng với 3 ngôi sao vùng thắt lưng của chòm sao Orion. Và điều đó khiến các nhà khoa học hiện đại điên đầu. Về tổng thể, các cạnh hình vuông của 3 kim tự tháp lớn nhất Giza thẳng hàng gần như hoàn hảo dọc theo hướng Đông-Tây. Nhà khảo cổ học và kỹ sư người Mỹ Glen Dash giải thích trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Kiến trúc Ai Cập cổ đại vào năm 2017 rằng: "Những người xây dựng kim tự tháp Gize cách đây hàng nghìn năm đã căn chỉnh kim tự tháp vĩ đại theo các điểm chính với độ chính xác hơn 4 phút góc, hay 0,06 độ". Trên thực tế, ba kim tự tháp lớn nhất Giza của Ai Cập đều thẳng hàng một cách đáng kể, theo cách mà bạn sẽ không nghĩ là mình sẽ thấy từ một thời đại không có máy bay không người lái, bản thiết kế và đồ họa máy tính. Trong khi nhiều giả thuyết tồn tại về cách người Ai Cập cổ đại đã làm điều này bằng cách sử dụng sao Bắc cực để sắp xếp các kim tự tháp, hoặc bóng của Mặt trời - thì các nhà khoa học hiện đại vẫn chưa bao giờ rõ ràng về cách chúng hoạt động như thế nào. BÍ MẬT ĐƯỢC GIẢI MÃ? Glen Dash đã đưa ra một ý tưởng khác, đơn giản hơn. Nghiên cứu của ông cho rằng người Ai Cập khoảng 4.500 năm trước có thể đã sử dụng điểm Thu phân để đạt được sự thẳng hàng hoàn hảo đó. Điểm Thu phân được coi là thời điểm xuất hiện hai lần trong một năm (Xuân phân và Thu phân), khi mặt phẳng của đường xích đạo của Trái đất đi qua tâm của đĩa Mặt trời, và độ dài của ngày và đêm tương đối bằng nhau. Các phép đo điểm phân trước đây đã bị coi là một phương pháp căn chỉnh thẳng hàng có thể... bỏ qua, vì người ta cho rằng nó sẽ không cung cấp đủ độ chính xác. Nhưng công trình nghiên cứu của Glen Dash đã chỉ ra rằng có một cách mà việc sử dụng điểm phân có thể hoạt động - đó là sử dụng gnomon - cột đồng hồ Mặt trời. Để khám phá ra điều này, Glen Dash thực sự đã thực hiện thí nghiệm của riêng mình, bắt đầu vào ngày đầu tiên của điểm Thu phân năm 2016 - rơi vào ngày 22 tháng 9 năm 2016 - và sử dụng một gnomon để tạo ra một cái bóng. Nhà khảo cổ theo dõi điểm của cái bóng trong những khoảng thời gian đều đặn, tạo thành một đường cong mượt mà nối các điểm với nhau. Và vào cuối ngày, với một đoạn dây căng quấn quanh cây cột, Glen Dash đã chặn được hai điểm của đường cong và tạo ra một đường thẳng gần như hoàn hảo chạy theo hướng Đông - Tây. Đây còn được gọi là phương pháp vòng tròn Ấn Độ. Hãy xem nó hoạt động qua hình ảnh dưới đây: Nguồn: Glen Dash, JAEA, 2018 Glen Dash chỉ ra rằng mức độ sai số tương tự như sai số nhỏ được tìm thấy trong sự thẳng hàng của các kim tự tháp Khufu, Khafre và Menkaure ở Giza. Thử nghiệm được tiến hành ở bang Connecticut, Mỹ nhưng Glen Dash cho biết điều tương tự sẽ có hiệu quả ở Ai Cập. Trên thực tế, tất cả những người Ai Cập cổ đại đều cần phải căn chỉnh các kim tự tháp vào một ngày nắng, trời quang mây tạnh, Glen Dash giải thích. Ông nói thêm rằng người Ai Cập có thể tính ra điểm Thu phân bằng cách đếm 91 ngày về sau kể từ ngày hạ chí. Nhà khảo cổ học và kỹ sư người Mỹ Glen Dash, người dành rất nhiều tâm sức cho nghiên cứu bí mật kim tự tháp Mặc dù nghiên cứu của nhà khảo cổ người Mỹ hết lòng vì các nghiên cứu kim tự tháp Ai Cập cho thấy rằng kỹ thuật này có thể được sử dụng để căn chỉnh độ thẳng hàng của các kim tự tháp, thì chúng ta vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng chắc chắn nào cho thấy người Ai Cập cổ đại đã làm như vậy. "Thật không may, người Ai Cập để lại cho chúng tôi rất ít manh mối. Không có tài liệu kỹ thuật hoặc bản thảo kiến ​​trúc nào đưa ra giải thích kỹ thuật chứng minh cách người Ai Cập cổ đại căn chỉnh bất kỳ ngôi đền hoặc kim tự tháp nào của họ", Glen Dash viết. Mặc dù chúng ta có thể không bao giờ biết điều gì thực sự đã xảy ra, nhưng giả thuyết này tạo ra một điểm thú vị - rằng một thứ đơn giản như lập bản đồ bóng đổ trong thời điểm Thu phân có thể đủ tinh vi để sắp xếp một số cấu trúc cổ đại dễ nhận biết nhất của nhân loại. BÍ ẨN THÁCH THỨC NHÀ KHOA HỌC HIỆN ĐẠI 3 kim tự tháp lớn nhất quần thể kim tự tháp Giza không chỉ thẳng hàng hoàn hảo, quần thể còn có những đặc điểm 'hoàn hảo' với Trái Đất và vũ trụ đến kỳ lạ. - Đầu tiên, quần thể kim tự tháp Giza nằm chính xác trên tọa độ giao nhau giữa kinh tuyến và vĩ tuyến dài nhất thế giới. Điều này đồng nghĩa, kim tự tháp Giza nằm ở vị trí trung tâm lục địa trên Trái Đất - Theo nhà thần học người Mỹ Joseph Seiss (1823-1904). - Thứ hai, quần thể kim tự tháp Giza; "Vùng im lặng - Silent Zone" (ở Mexico); và "Tam giác quỷ" Bermuda (Tây Đại tây Dương) nằm trên cùng một đường thẳng trên Trái Đất. Kênh History (Mỹ) gọi đó là 'tam trùng bí ẩn'. - Thứ ba, tại quần thể kim tự tháp Giza, 3 kim tự tháp lớn nhất là Khufu, Khafre và Menkaure nằm thẳng hàng với 3 ngôi sao vùng thắt lưng của chòm sao Orion. - Thứ tư, theo các nhà thiên văn, quần thể kim tự tháp Giza hướng về đúng điểm cực Bắc của Trái Đất. Cho đến nay, mặc dù được xây dưng cách đây hàng nghìn năm, nhưng đây là công trình hướng cực Bắc chuẩn nhất trên thế giới. Theo Trí thức Trẻ

bottom of page