top of page

Kết quả tìm kiếm

Tìm thấy 64 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • Khối cầu 2,8 tỷ tuổi và nghi ngờ về thuyết lịch sử bị che khuất của loài người

    Các khối cầu được tìm thấy ở vùng mỏ khai thác của Nam Phi có thể là vật tạo tác của một văn minh rất cao thời tiền sử. Những khối cầu tỷ tuổi bí ẩn ở khu mỏ khai thác của Nam Phi Tại một mỏ khai thác ở Nam Phi, sự xuất hiện của 4 quả cầu tròn không thuộc về hành tinh này khiến cả thế giới kinh ngạc. Theo Epoch Times, Oopart (out of place artifact- đồ tạo tác không phù hợp với niên đại) là thuật ngữ dùng để chỉ những vật thể thời tiền sử được phát hiện ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới, và có trình độ kỹ thuật vượt xa thời đại tạo ra chúng. Oopart thường khiến các nhà khoa học theo lối suy nghĩ thông thường phải đau đầu, kích thích họ tìm ra lý thuyết mới thay thế, đồng thời khơi mào nhiều cuộc tranh luận. Khối cầu Klerksdorp Michael Cremo, nhà nghiên cứu văn hóa thời tiền sử, đi khắp nơi trên thế giới để thu thập thông tin về đồ tạo tác oopart. Năm 1984, Cremo liên lạc với Roelf Marx, người quản lý bảo tàng Klerksdorp (Nam Phi), để nghiên cứu các khối cầu kỳ lạ gọi là Klerksdorp hiện đang lưu giữ ở đây. Chúng được tìm thấy tại mỏ khai thác ở Nam Phi. Cremo biên soạn những phát hiện của mình thành cuốn sách nổi tiếng "Khảo cổ học ngăn cấm: Lịch sử bị che khuất của loài người". Marx mô tả các khối cầu Klerksdorp có niên đại khoảng 2,8 tỷ năm tuổi, với bề mặt rất cứng và cấu trúc dạng sợi bên trong. Marx cảm thấy chúng khá kỳ lạ và khó hiểu. "Không có gì công bố về khối cầu mang tính khoa học. Chúng được tìm thấy trong mỏ đá cao lanh pyrophyllite, gần thị trấn nhỏ Ottosdal ở phía tây Transvaal. Loại đá cao lanh này hình thành từ trầm tích khoảng 2,8 tỷ năm trước đây. Đây là loại khoáng sản khá mềm với chỉ số 3 trong thang đo Mohs (thang đo từ 1 đến 10 để phân loại độ cứng của khoáng vật, trong đó đá talc mềm nhất, kim cương cứng nhất)", Cremo cho biết. "Các khối cầu có cấu trúc dạng sợi bên trong, và một lớp vỏ bọc bên ngoài cứng như thép, không thể bị trầy xước". Quả cầu Klerksdorp, món đồ tạo tác 2,8 tỷ năm tuổi, có kích thước 30-50mm hoàn hảo cùng các đường rãnh đồng cứng không thể bị trầy xước giống như được khắc bằng tay đầy khéo léo. Bên trong khối cầu là một chất giống như than củi nhưng mềm và xốp như bông. Theo Cremo và một số nhà nghiên cứu khác, những khối cầu Klerksdorp thêm vào bằng chứng cho thấy, sự sống thông minh đã tồn tại trên Trái đất từ lâu, trước thời điểm mà chúng ta vẫn thường nhận định. Thể theo thuyết tiến hóa, các khối cầu được tìm thấy ở châu Phi có niên đại từ thời con người còn chưa tồn tại trên Trái đất. Điều này thực sự vô cùng khó hiểu dựa trên các tri thức hiện hữu. Liệu có thực rằng quả cầu Klerksdrop là bằng chứng bổ sung cho thấy sự sống thông minh đã tồn tại trên Trái đất từ lâu trước mốc niên đại được nhìn nhận bấy lâu? Giả thuyết cho rằng Trái đất từng là nơi cư ngụ của các dạng sống khác từ quá khứ xa xưa, từ hàng triệu thậm chí hàng tỷ năm trước, đã làm dấy lên vô số tranh luận trong giới nghiên cứu và học giả. Nhiều ý kiến cho rằng, khối cầu là sản phẩm của quá trình tích tụ và cứng lại của khoáng chất. Theo tiến sĩ Karrie Weber thuộc Đại Học Nebraska-Lincoln (Mỹ), vi khuẩn có thể đã giúp hình thành nên các khối cầu. Nhà địa chất Dave Crosby ban đầu đưa ra giả thuyết về một vụ va chạm thiên thạch làm phân tán những khối cầu nóng chảy, sau đó cô đặc lại trên cát. Nhiều người cho rằng, khối cầu Klerksdorp hình thành do quá trình tự nhiên gọi là kết hạch (sự tích tụ và cứng lại của khoáng chất). Một vài khối cầu Klerksdorp có hình dạng elip với đường vân thô xung quanh khu vực trung tâm. Nhưng số khác lại có hình dạng và tỷ lệ cân đối. Các đường rãnh xung quanh chúng trông rất thẳng, giống như ai đó khắc bằng tay. Rất ít khả năng chúng hình thành một cách tự nhiên, những người ủng hộ giả thuyết khối cầu do sinh vật thông minh tạo ra, cho biết. Năm 2002, Bảo tàng Klerksdorp đăng tải lá thư của John Hund ở Pietersburg (Nam Phi), trên trang web. Theo nhà địa chất Paul V. Heinrich, tuyên bố đưa ra trong bức thư chưa được xác minh và sau đó nó bị gỡ bỏ. Hund nói rằng, một trong những khối cầu đã được kiểm tra tại Viện Không Gian California (Mỹ). Các nhà khoa học đi đến kết luận, khối cầu có tính chất cân đối rất cao, vượt quá giới hạn công nghệ đo lường của họ. Nó cách sự hoàn hảo tuyệt đối chỉ một phần một trăm nghìn inch (1 inch = 2,54cm). Viên bi Moqui ở Utah, Mỹ Tại Utah, người ta cũng tìm thấy các khối cầu tương tự gọi là viên bi Moqui hoặc quả bóng Moqui, với niên đại khoảng 2 triệu năm. Truyền thuyết kể rằng, những người tổ tiên đã mất của người thổ dân châu Mỹ Hopi chơi trò chơi với các viên bi và để lại chúng như một lời nhắn gửi tới người thân của họ, cho thấy họ vẫn đang hạnh phúc và ổn. Tiết diện cắt ngang của một viên bị Moqui với lõi bên trong bằng cát và lớp vỏ ngoài cứng, làm từ oxit sắt. (Ảnh: Wikimedia) Tiết diện cắt ngang của một viên bị Moqui với lõi bên trong bằng cát và lớp vỏ ngoài cứng, làm từ oxit sắt. Viên bi Moqui có lõi bên trong bằng cát và lớp vỏ bên ngoài cứng, làm từ oxit sắt. Thí nghiệm của Heinrich trên một trong số những khối cầu Klerksdorp cho thấy, nó có thành phần là hematit (khoáng vật của oxit sắt). Heinrich cũng phát hiện một khối cầu Klerksdorp khác làm từ khoáng vật wollastonit cùng với hematit và goethite, một oxit sắt ngậm nước. Theo tiến sĩ Karrie Weber thuộc Đại Học Nebraska-Lincoln (Mỹ), vi khuẩn có thể đã giúp hình thành nên các khối cầu như là sản phầm phụ trong quá trình sinh trưởng của chúng. Nhà địa chất Dave Crosby tiến hành nghiên cứu ở Utah, nơi phát hiện ra các viên bi Moqui, ban đầu đưa ra giả thuyết về một vụ va chạm thiên thạch làm phân tán những khối cầu nóng chảy, sau đó cô đặc lại trên cát. Tuy nhiên, khi nghiên cứu sâu hơn, Crosby không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào về tác động của vụ va chạm thiên thạch. Sau đó, ông phát triển một giả thuyết liên quan đến việc nước mưa làm hòa tan sắt, các khoáng chất và mang chúng xuống mạch nước ngầm. Khi đó, sắt sẽ được tích tụ ở xung quanh các hạt cát, hình thành nên khối cầu. Cremo và một số nhà nghiên cứu khác ủng hộ quan điểm cho rằng, oopart là bằng chứng của nền văn minh tiên tiến thời tiền sử. Giới khoa học cần dũng cảm và sẵn sàng hơn để thừa nhận bằng chứng có thể đối lập với nhận thức phổ biến hiện nay. Theo VnExpress/NĐT

  • Bí mật Ấn Độ che giấu ngàn năm: Những câu hỏi khó cho nhà khoa học

    Bí mật Ấn Độ che giấu ngàn năm: Những câu hỏi khó cho nhà khoa học Văn hóa Ấn Độ trải qua ngàn năm vẫn luôn khiến nhiều nhà khoa học, sử học muốn nghiên cứu. Đặc biệt trong đó có một số hiện tượng, sự việc... khiến thế giới cũng như giới khoa học tò mò muốn tìm ra câu trả lời. Những bí ẩn không thể lý giải được ở Ấn Độ Lịch sử là một môn học thú vị, nhưng nó cũng mang đến cho chúng ta nhiều vấn đề cần giải quyết. Cùng thử tài làm thám tử của bạn để cùng chúng tôi khám phá những bí ẩn chưa có lời giải sau đây tại Ấn Độ. Nền văn minh cổ xưa Indus Thung lũng Indus được xem như một nên văn minh vĩ đại và cổ xưa nhất ở Ấn Độ. Thung lũng Indus được xem như một nên văn minh vĩ đại và cổ xưa nhất ở Ấn Độ, và bị lãng quên cho đến khi di tích được khai quật vào năm 1920. Indus là một trong những nền văn hóa đô thị lớn đầu tiên trên thế giới, bao quát toàn bộ Ai Cập và Lưỡng Hà. Nhiều nhóm nghiên cứu quốc tế mất hơn 5 năm kết hợp những hình ảnh vệ tinh và các dữ liệu về địa chất để lập ra bản đồ địa hình kỹ thuật số toàn bộ khu vực mà nền văn minh Indus từng tồn tại. Nền văn minh Indus đã biến mất một cách bí ẩn khoảng hơn 4000 năm trước đây. Lần đầu tiên, các nhà khoa học phát hiện, chính biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây nên sự sụp đổ của đô thị cổ đại nổi tiếng này. Phiến đá cổ 10.000 năm có dấu vết người ngoài hành tinh Viện khảo cổ học và văn hóa Chhattisgarh, Ấn Độ đang kêu gọi sự trợ giúp từ phía NASA và Isro trong công cuộc nghiên cứu các  hình vẽ kỳ lạ về UFO và người ngoài hành tinh trên những phiến đá 10.000 năm tuổi  tại một hang động thuộc vùng Charama, quận Kanker, bang Chhattisgarh. Hình vẽ kỳ lạ mô tả người ngoài hành tinh. Theo nhà khảo cổ học JR Bhagat, những hình vẽ kỳ lạ mô tả về người ngoài hành tinh xuất hiện trên những phiến đá rất giống với tạo hình trong phim. Ông Bhagat cho biết, có thể trong thời kỳ tiền sử, con người đã nhìn thấy người ngoài hành tinh và những hình ảnh thuộc về thế giới ngoài Trái Đất. Theo lời kể lại của những người dân địa phương, từ xa xưa, tổ tiên họ đã truyền tai nhau về những sinh vật lạ nhỏ bé có tên là  "Rohela" . Những sinh vật này ở trên những vật thể bay hình tròn trên trời, đáp xuống mặt đất và đưa 2 người dân làng đi mất. Bí ẩn đại bảo tháp ngàn năm tuyệt đẹp ở Ấn Độ Quần thể di tích Sanchi  nằm về phía Bắc của bang Madhya Pradesh chừng 68km. Nơi đây không chỉ là công trình được bảo quản gần như nguyên vẹn suốt hàng ngàn năm qua mà còn được đánh giá là một trong những kiến trúc Bảo tháp Phật môn hoàn hảo nhất. Công trình nổi bật nhất trong quần thể kiến trúc Sanchi chính là  tòa Đại bảo tháp . Tòa tháp lớn nhất này về cơ bản là một mái vòm gần như hoàn hảo với chiều cao 15m và bán kính 30m, được xây dựng bằng gạch nung và vữa. Toàn cảnh tòa Đại bảo tháp. Bao quanh ngọn tháp là một hàng lan can nằm ở khoảng 1/3 chiều cao từ dưới lên. Trên đỉnh tháp thiết kế phần sân thượng hình vuông khá rộng rãi, cũng có hàng rào bốn phía. Đây chính là nơi hành lễ trong những dịp quan trọng. Cận cảnh chân tòa Đại bảo tháp. Một hàng rào khác, được xây dựng từ những cột đá nguyên khối khổng lồ, bao bọc quanh toàn bộ phần chân tháp. Hàng rào này nối liền với 4 cổng đá uy nghi được chạm khắc vô cùng tinh xảo, gọi là  "toran Dwar"  và được đặt theo bốn hướng Nam- Bắc- Đông- Tây. Hội kín phương Đông: 9 người đàn ông vô danh Nhóm 9 người bí ẩn được hoàng đế Ashoka lập nên. (Ảnh minh họa). Ashoka hay còn gọi là A Dục Vương , là vị Hoàng đế thứ 3 trị vì vương quốc Khổng Tước, thuộc Ấn Độ vào 273 đến 232 trước Công nguyên (TCN). Vì lo lắng bảo vệ đế chế từ tổ tiên để lại, nên trước cuộc nổi dậy của nước Kalinga, nằm giữa Calcutta và Madras, Hoàng đế Ashoka đã phái 1 đội quân tinh nhuệ giết hơn 100.000 chiến binh Kalinga. Hoàng đế Ashoka cam kết dùng sứ mệnh của mình để bảo vệ đất nước, ngăn chặn những người có hành vi làm điều ác, đặc biệt là phạm tội chiến tranh. Vào năm 226 TCN, theo một số văn thư cổ, vị hoàng đế này đã lập nên 1 nhóm 9 người bí ẩn với mục tiêu phát triển khoa học công nghệ nhưng không để nó hủy hoại loài người. Vậy,  "9 người đàn ông vô danh"  là có thật? Ashoka có thể đã làm rất tốt khi đã không yêu cầu tên của 9 người đàn ông để tập hợp các kiến thức khoa học, đặc biệt là các ứng dụng liên quan đến chiến tranh. Đây là 1 thời gian khó khăn và những vị hoàng đế khác đã từng được biết đến với nhiều sáng kiến tương tự. Những người đàn ông có thể khám phá các chiến thuật chiến đấu khác nhau và đào tạo, vũ khí sản xuất, ngựa / xử lý con voi, và thậm chí có thể sử dụng thuốc súng. Tuy nhiên, một nhóm bí mật cổ đại tồn tại trong hơn 2000 năm, kiểm soát các sự kiện toàn cầu từ khu rừng xa xôi của Ấn Độ mà không có bất kỳ một gợi ý nào từ trang thiết bị hiện đại, cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ thì thật khó tin. Đối với nhiều người, đây chỉ có thể là truyền thuyết. Các trụ cột âm nhạc - Đền Vittala, bang Hampi - Karnataka Điều làm ngôi đền này trở nên nổi tiếng là 56 trụ cột âm nhạc kỳ lạ. Ngôi làng Hampi tự hào có nhiều kiến trúc có ý nghĩa lịch sử, và nổi bật nhất là Đền Vittala. Ngôi đền được thiết kế theo kiến ​​trúc Dravidian, được chạm khắc rất tinh tế làm nổi bật tay nghề khéo léo của các nghệ nhân trong thời gian đó. Một đặc điểm khác làm cho ngôi đền này trở nên nổi tiếng là 56 trụ cột âm nhạc. Những cây cột này tạo ra âm thanh rất hay khi gõ vào, nhưng một số nhà khoa học người Anh đã cố gắng tìm kiếm điều bí ẩn bên trong bằng cách phá vỡ 2 trong số các trụ cột và họ không thể tìm thấy gì. Bí ẩn về sự phát triển của tượng thần Nandi - đền Yaganti - Andhra Pradesh Bức tượng Nandi được đặt ở đây cứ ngày một tăng trưởng về kích thước trong suốt những năm qua. Nằm ở quận Kurnool, Yaganti là một ngôi đền nổi tiếng của thần Shiva, nơi mỗi năm các tín đồ lại đổ về với một số lượng lớn. Điều bí ẩn là bức tượng Nandi được đặt ở đây cứ ngày một tăng trưởng về kích thước trong suốt những năm qua và đây không phải là một huyền thoại. Khảo sát khảo cổ của Ấn Độ đã xác nhận rằng, bức tượng này tăng thêm 2,5 cm sau mỗi 20 năm. Một bí ẩn khác ở nơi đây là: Theo truyền thuyết một nhà hiền triết đã nguyền rủa những con quạ bay vào đền vì vậy trong đền không bao giờ có bóng dáng của một con quạ nào. Những viên đá nổi - Bang Rameshwaram - Tamil Nadu Nhìn chúng giống viên đá bình thường nhưng chúng lại nổi lên khi được đặt trong nước. Thần thoại Ấn Độ kể rằng, để giải cứu vợ Sita khỏi Ravana, Lord Rama đã xây dựng một cây cầu nối từ Rameshwaram đến Sri Lanka qua eo biển Palk. Cây cầu được gọi là Rama Setu. Điều khiến người ta giật mình là một số viên đá được tìm thấy quanh khu vực, mặc dù có hình dạng tương tự như những viên đá bình thường nhưng chúng lại nổi lên khi được đặt trong nước. Lý do đằng sau hiện tượng đá nổi như vậy vẫn chưa được xác định mặc dù nó đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Tảng đá khổng lồ - Bang Mahabalipuram - Tamil Nadu Tảng đá Krishna giữ được sự thăng bằng hoàn hảo cho dù đứng chênh vênh trên một con dốc. Krishna là một tảng đá khổng lồ ở Mahabalipuram nổi tiếng vì giữ được sự thăng bằng hoàn hảo cho dù đứng chênh vênh trên một con dốc. Tảng đá ước tính cao khoảng 6m và đã trở thành một điểm thu hút lớn đối với khách du lịch. Năm 1908 người ta đã quyết định loại bỏ tảng đá vì sợ rằng nó có thể lăn xuống và phá hủy những ngôi nhà gần đó nhưng mọi sự nỗ lực đều trở nên vô ích. Điều gì làm cho tảng đá này đứng yên ổn ở một góc độ khó có thể tưởng tượng như vậy? Đến nay khoa học vẫn chưa giải đáp được. Theo phunutoday/baogiaothong

  • Điện sinh học - năng lượng kỳ bí ở con người

    Mỗi cơ thể con người là hàng tỷ tế bào, mỗi tế bào là một chiếc pin sống. Chỉ có điều các pin này hết sức nhỏ, nên điện của chúng tạo ra vô cùng yếu. Có những điều con người cho là kỳ lạ nhưng lại xuất phát từ nguồn điện sinh học đang tồn tại trong cơ thể con người. Ảnh: Whizzart Có rất nhiều câu chuyện liên quan đến dòng điện sống ở con người mà cho đến nay, nhiều người vẫn cho là do một thế lực siêu nhiên nào đó, và các nhà khoa học luôn đi tìm cách lý giải. Hiện tượng “quỷ nhập tràng” là một ví dụ, thực ra đây chỉ là một cách nói dân gian huyền bí làm câu chuyện trở nên ly kỳ. Ở tỉnh Togshiga, Nhật Bản vào năm 1974, một người nông dân đã phát hiện xác đứa trẻ bị chết đuối trôi dạt vào bờ. Một nhân chứng thuật lại, khi nhìn thấy xác chết, dường như có một điều gì đó rất lạ làm người nông dân đó hoảng sợ định vùng chạy, nhưng cái xác lại vùng dậy, quờ lấy anh ta, rồi không thấy anh ta trở dậy. Câu chuyện tưởng chừng như chỉ có trong các cuốn truyện kinh dị, hù dọa những người yếu tim, nhưng lại được giải thích một cách khoa học. Vì quá sợ khi nhìn thấy xác chết, não người nông dân đã phóng ra một nguồn điện rất mạnh truyền xuống chân, chân anh chạm vào xác chết - vốn là một chất dẫn điện, và dòng điện này truyền xuống đất ẩm rồi quay trở lại, xuyên qua xác chết trở lại cơ thể người đàn ông. Như vậy là nguồn điện đã “đóng mạch”, xác chết giẫy mạnh bám lấy chân người nông dân khiến anh ta phát hoảng bỏ chạy, đồng thời kéo cái xác đi một đoạn. Người nông dân này không bị “ma bắt” như người ta thêu dệt mà bị đứng tim và chết do quá sợ. Tương tự như vậy, vào mùa xuân năm 1957 ở Ba Lan, một sinh viên tên là Mangecki có hẹn với cô bạn gái vào lúc 6 giờ tối, nhưng do làm việc căng thẳng nên anh đã ngủ quên. Trong giấc ngủ chập chờn, anh được thông báo về cái chết của người bạn gái. Sự thật là một chiếc ôtô lao nhanh đã cán ngang qua người một cô gái đi sang đường đúng vào giờ hẹn. Theo các nhà khoa học, trong trường hợp này, khi cô gái chết, não của cô đã phóng ra một làn sóng điện và não của Mangecki như một chiếc TV thu tín hiệu chuyển thành thông tin đến với anh. Điện sinh học không chỉ tồn tại trong cơ thể con người mà nó còn có trong một số loài động vật, điển hình là ở cá đuối. Trên lưng cá đuối có sẵn 2 nguồn điện sống, có thể phát ra nguồn điện mạnh đến 720 vôn để săn mồi. Chúng săn tìm những con cá khác mà không cần đến gần con mồi. Trong mỗi người chúng ta có một dòng điện sống. Mỗi tế bào chính là một chiếc pin, nhưng nguồn điện này lại quá yếu nên con người không bị điện giật. Đặc biệt ở não bộ, nơi điều khiển mọi hoạt động của cơ thể con người, số lượng tế bào nhiều và tập trung hơn bất kỳ bộ phận nào. Nó là nhà máy phát điện mạnh nhất. Các nhà khoa học đã đo được trong mỗi tế bào não có một dòng điện khoảng 90 milivôn, và với 15-18 tỷ tế bào não, ta sẽ có một dòng điện cực mạnh. Trong mỗi con mắt của một người bình thường cũng có tới 130 triệu tế bào. Ở bộ não, mỗi một cử động nhìn, nghe hay suy nghĩ của con người được não bộ tiếp nhận và xử lý thông qua hàng triệu các xung động điện từ của các tế bào thần kinh. Bộ não là nơi duy nhất không sản sinh thêm các tế bào thần kinh nào, mà chúng mất đi theo tuổi tác. Theo các nhà khoa học của Nga, thông thường các tế bào não hay tế bào thần kinh được sắp xếp theo một trật tự nhất định và điều khiển mọi hoạt động bình thường của con người. Nếu ở người nào các tế bào đó bị sắp xếp lộn xộn, các pin yếu kết hợp lại và phóng điện ra ngoài, thì người đó sẽ có khả năng... đặc biệt. Chẳng hạn như một người Italy có khả năng làm mọi vật bốc cháy, hay như một em bé “nam châm” ở Nga có khả năng hút các đồ vật bằng sắt... Các nhà khoa học cho rằng, xung quanh những người này luôn xuất hiện một trường điện từ rất mạnh được điều khiển từ bộ não. Khi muốn thì khả năng đặc biệt mới bộc lộ, còn bình thường họ không có gì khác biệt với chúng ta. Ứng dụng khoa học về dòng điện Nhà bác học Faraday từng nói: “Cho dù điện vật lý có hấp dẫn bao nhiêu thì cũng chẳng thể nào so được với sức cuốn hút kỳ diệu của điện sinh học, điện trong cơ thể ta”. Hiện nay, ở các bệnh viện đã có máy để ghi lại điện tim hay điện não. Khi nghiên cứu tác động của trường điện từ tự nhiên đối với bộ não, giáo sư Hyland thuộc Đại học Coventry (Tây Ban Nha) cho rằng, những thay đổi về điện não đo được ở người chứng tỏ sức khỏe của con người bị tác động của dòng điện tự nhiên. Nó làm não bộ mất cân bằng về một số chất sinh hóa, giống như những người say rượu, và ngăn cản quá trình sản xuất melatonin, một hoóc môn chống ung thư ở người. Những thay đổi của dòng điện sinh học trong cơ thể, hay những biến đổi về trường điện từ của bộ não cũng có thể đang báo hiệu một bệnh cảnh lâm sàng nào đó, đặc biệt là các bệnh về thần kinh. Bác sĩ T.Sharma ở Học viện tâm thần London (Anh) cho biết, việc  chữa bệnh mất trí nhớ  bằng phương pháp sốc điện đã cho kết quả khả quan. Gần 2.800 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này trong vòng 3 tháng, 80% trong số họ cho biết tình trạng bệnh được cải thiện. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng phương pháp trên sẽ tiêu diệt các tế bào thần kinh của não bộ. Thực tế là người ta đã kết hợp giữa dòng điện tự nhiên của cơ thể với dòng điện từ bên ngoài, và tác động vào các tế bào thần kinh. Các nhà khoa học đã thí nghiệm trên những người bị thương tổn não bộ. Họ dùng một dòng điện yếu kích thích nhiều vùng trên não để tìm ra những điểm điều khiển các hoạt động khác nhau của con người, có thể là vùng trí nhớ, vùng sợ hãi, hay vùng làm con người vui vẻ... Bằng phương pháp này, các bác sĩ có thể chữa được những căn bệnh liên quan đến tâm thần. (Theo  Sức Khỏe & Đời Sống )

  • Tia đất bí ẩn

    Hàng nghìn năm trước, người Trung Quốc với tư duy trực quan của mình đã phán đoán, xác định dưới mặt đất tồn tại những lực mạnh mẽ khác nhau mà con người không nhìn thấy được, và nhấn mạnh con người phải chung sống hòa bình với chúng. Tương ứng với thiên khí, các nhà thông thái đã xác lập quan niệm về địa khí: “Phàm xem đất phải lấy khí làm chủ”. Địa khí là động lực của sự dẫn truyền thể hiện qua sự lượn sóng của đất, sự biến chuyển của mạch ngầm. Ảnh: Sức khỏe và Đời sống Người Trung Quốc cổ phát minh ra chiếc la bàn đầu tiên trên thế giới bởi vì không những họ đã sớm cảm nhận và phát hiện được từ trường của quả đất mà còn nhận thức khá đầy đủ về sự cảm ứng giữa từ trường, địa khí và con người. Tìm địa khí là tìm tòi, đo lường và phát hiện những đường khí trong lòng đất để thích nghi, đồng thời lợi dụng những khí lực to lớn đó để hòa nhập vào sức sống sôi động của thế giới tự nhiên. Các triết gia cho rằng muốn thân thể khỏe mạnh, vạn vật sinh trưởng, cuộc sống cường thịnh, con người phải biết cách tìm dương trạch để mong muốn được thừa hưởng lực khí từ trong lòng đất bốc lên. Nơi ở có địa khí ngưng tụ, thuận âm dương, hợp hướng thủy cục sẽ đón được khí trời tốt. Người phương Đông thường tin tưởng rằng, đất làm nhà ở mà thuận khí âm dương thì cuộc sống thuận hòa, tuổi thọ sẽ cao. Đó là nguyên lý thừa hưởng khí lành của trời đất. Thuật phong thủy cổ chủ ý tầm tra những long mạch, huyệt vị, thế đất, hướng nhà để tìm khí tốt cho con người có cuộc sống hòa thuận với thiên nhiên. Một ngọn đồi có hình con rùa là một vùng đất tốt, con người ở đó sẽ trường thọ và an bình như loài rùa. Mạch núi, mạch đất có hình giống con rồng sẽ đem lại cho dân cư vùng này sức khỏe và sự mạnh mẽ. Hướng nhà đón đúng hướng gió lành hay ở bên cạnh sông hồ có nhiều hy vọng được thành công và may mắn. Tia đất và hiểm họa Các loại tia từ vỏ cứng của trái đất phát ra, lan tỏa trên mặt đất dưới dạng sóng và từ trường được gọi là quỷ trạch, trường sinh địa, địa sinh học, trường địa điện từ hay nôm na gọi là tia đất. Chúng bao gồm những tia bức xạ điện từ, bức xạ phân rã, bức xạ độc chất hóa học, từ trường các khoáng vật thuộc các tầng hệ đất khác nhau, từ các mạch nước ngầm... Cấu trúc đa dạng của các địa tầng, sự chuyển động của các mạch núi, biến động của các mạch ngầm, sự trôi dạt của lục địa... tạo nên nhiều loại tia đất. Sự tương tác giữa chúng càng làm cho cuộc sống tự nhiên của con người trở nên phức tạp và có phần huyền bí, siêu nhiên. Dưới con mắt của các nhà địa chất, mặt đất không ngủ yên bình mà mọi vật chất vẫn đang chuyển động, và tác động lẫn nhau giữa các vật chất trong tự nhiên được diễn ra một cách nhanh, mạnh và liên tục. Những mỏ kim loại, những mỏ khoáng chất, những mỏ nước ngầm đều mang đầy ion điện, sản sinh ra những tia bức xạ điện từ dày đặc. Các kết quả nghiên cứu đã khẳng định, bức xạ nguy hại nhất với con người là của các chất phóng xạ rải rác khắp dưới mặt đất và của các dòng nước ngầm. Đối với những tia đất có nguồn gốc từ dòng chảy ngầm, các thử nghiệm đã cho thấy chúng có ảnh hưởng độc hại đến cơ thể con người gần bằng ảnh hưởng của bão từ trường. Tất cả các biến động này đều chịu sự tác động điện từ không cưỡng lại được của các trường lực thỏi nam châm khổng lồ trong lòng trái đất. Hiện nay, các nhà khoa học còn lo lắng về sự bùng phát của tia đất khi chúng bị kích hoạt bởi các tia vũ trụ hay các cơn bão từ mặt trời, các vụ đụng độ của các tiểu hành tinh... Bên cạnh đó, các tia đất cũng gây ô nhiễm cho các tầng thấp của khí quyển và làm ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe của con người. Vấn đề này đã được các nhà hóa học châu Âu chứng minh: axit nitric có trên mặt đất (được hình thành từ sự biến đổi môi trường do cuộc sống của con người góp phần tạo ra) là nguyên nhân tạo ra các hợp chất hình thành ôzôn trong các tầng thấp của khí quyển theo hai mặt. Khi tương tác với ánh sáng mặt trời, axit nitric giải phóng ra các gốc hydroxyl. Gốc hydroxyl có hoạt tính cao phân hủy các chất hữu cơ dễ bay hơi gây ô nhiễm, hình thành ra ôzôn trong các tầng thấp của khí quyển. Trái ngược với tầng ôzôn ở các tầng khí quyển cao (có hiệu ứng tích cực là ngăn ngừa tia cực tím), lớp ôzôn có mặt ở ngang mức mặt đất sẽ gây kích thích mắt và làm ảnh hưởng đến hệ hô hấp của con người. Đa số các bệnh lý không có triệu chứng rõ ràng, chỉ là đau đầu, cảm giác khó thở, huyết áp tăng, rối loạn tuần hoàn máu, đau nhức cơ bắp, giảm sức đề kháng... mà không thể đổ tội cho siêu vi khuẩn đều là do các bức xạ nguy hại từ tia đất tạo ra. Đặc biệt, khi bị ảnh hưởng của vùng từ trường mạnh và đủ lâu, con người có thể ngất, say. Có nhà khoa học còn cho rằng ảnh hưởng nhiều năm còn dẫn đến ung thư. (Theo  Sức Khỏe & Đời Sống )

  • Kết quả chấn động khi kiểm tra xá lợi răng Phật Thích Ca Mâu Ni

    Xá lợi Phật là thánh vật do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi nhập niết bàn để lại. Các chuyên gia đã phát hiện được điều bí ẩn bên trong nó. Hầu hết mọi người chúng ta đều chỉ nghe qua về xá lợi mà chưa từng nhìn thấy bảo vật này. Đây là thánh vật của Phật gia với hình dạng óng ánh, trong sáng. Nguồn gốc của nó vẫn là một bí ẩn. Năm 2014, cơ quan đá quý của Bỉ đã tiến hành giám định xá lợi Phật. Kết quả giám định khiến các chuyên gia vô cùng kinh ngạc. Họ đã phát hiện ra điều gì bên trong? Tại sao chọn cơ quan đá quý của Bỉ để giám định xá lợi Phật? Kết quả giám định khiến mọi người chấn động Ngũ Phương Phật là gì? Xá lợi đem đi thực nghiệm được tìm thấy ở đâu? Điều gì đã xảy ra với xá lợi của Đức Phật Thích Ca? Xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến Trung Quốc như thế nào? Những nơi nào khác ở Trung Quốc lưu giữ xá lợi thực sự của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni? Tại sao chọn cơ quan đá quý của Bỉ để giám định xá lợi Phật? Từ thế kỷ 15, thành phố Antwerp của Bỉ là trung tâm kim cương của thế giới. Tay nghề của các nghệ nhân kim cương ở đây đã được công nhận là xuất sắc nhất trên thế giới. Năm 1973, Tổ chức chuyên giám định kim cương (viết tắt là HRD) được thành lập tại Antwerp để cấp chứng nhận kim cương và các loại đá quý khác theo tiêu chuẩn được quốc tế công nhận. Họ sử dụng thiết bị phòng thí nghiệm hiện đại nhất để phân tích kiểm tra kim cương. Năm 1975, Viện đá quý quốc tế (viết tắt là IGI) cũng được thành lập ở Antwerp của Bỉ. Viện có phòng thí nghiệm giám định đá quý độc lập lớn nhất thế giới và cơ sở giáo dục nghiên cứu đá quý. Antwerp xứng đáng được coi là thủ phủ của kim cương. Vì vậy, xá lợi Phật được giao cho tổ chức của Antwerp ở Bỉ để giám định. Kết quả giám định khiến mọi người chấn động Thông thường những giáo đồ thành kính vô cùng phản đối việc đem thánh vật của Phật giáo đi thí nghiệm. Vì vậy phải đến năm 2014, chùa Phật Cung ở huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây mới đưa xá lợi răng của Phật Thích Ca Mâu Ni do chùa thờ cúng đến Chi nhánh Hồng Kong của Hiệp hội đá quý AGS của Antwerp, Bỉ để kiểm tra. Sau nhiều lần thí nghiệm và phân tích dữ liệu, tiến sĩ Cao Bân đã đưa ra kết quả như sau: Xá lợi Phật từ hình dạng bên ngoài có thể thấy rằng không có bất kỳ dấu vết nhân tạo nào. Điều này phá bỏ đi nghi ngờ xá lợi Phật là điều bịa đặt, không có thực. Bên trong xá lợi có 99,97% cacbon và 0,03% lưu huỳnh, kẽm, silic, stronti phù hợp với thành phần của kim cương. Dưới áp lực lớn, xá lợi tử vẫn hoàn toàn nguyên vẹn. Điều này cho thấy độ cứng của xá lợi tương tự như một viên kim cương. Như mọi người đã biết, kim cương là vật liệu cứng nhất trong tự nhiên. Các phân tử cacbon trong xá lợi đem đi thí nghiệm, phát hiện rằng nó được sắp xếp trong một hệ thống tinh thể đồng đều hình lục giác. Điều này có nghĩa là gì? Hệ tinh thể ba nghiêng là thuỷ tinh, hệ tinh thể lập phương là kim cương và hệ tinh thể lục giác là thiên thạch. Điều này có nghĩa là độ cứng của xá lợi còn cao hơn kim cương rất nhiều, sánh ngang với thiên thạch. Mà thiên thạch không phải là vật chất trên trái đất này, nó là một vật thể ngoài hành tinh. Sau đó, một khám phá thậm chí còn đáng ngạc nhiên hơn được phát hiện. Tiến sĩ Cao Bân dùng kính hiển vi điện tử để phóng đại xá lợi 1000 lần. Điều bất ngờ là ông đã thấy được hình ảnh của Đức Phật ở bên trong. Trong đó một viên xá lợi thực sự cho thấy các bức tượng ngồi của năm vị Phật. Điều này phù hợp với hình tượng Ngũ phương Phật trong Phật giáo. Điều này thật phi thường! Kết quả thí nghiệm này cũng khiến tiến sĩ Cao Bân vô cùng ngạc nhiên mà thốt lên: “thật thần kỳ!”. Ông vui mừng đến mức rơi nước mắt và bái lạy không ngừng trước xá lợi răng của Đức Phật. Nhiều điều trước đây được coi là “mê tín” đã được khoa học chứng thực. Ngũ Phương Phật là gì? Ngũ Phương Phật hay còn gọi là Ngũ Phương Như Lai, Ngũ Trí Như Lai có nguồn gốc từ tư tưởng của Kim cương giới của Mật Tông. Trong đó, có năm phương vị là đông, nam, tây, bắc và trung tâm tương ứng với mỗi vị Phật chủ trì. Bao gồm: Phật Đại Nhật Như Lai (Vairocana) ở trung tâm Phật Bất Động (Akshobhya) ở phương Đông Phật A Di Đà (Amitabha) ở phương Tây Phật Bảo Sinh (Ratnasambhava) ở phía Nam Phật Bất Không Thành Tựu Như Lai (Amoghasiddhi) ở phía Bắc. Ngũ Phương Phật có phương hướng, màu sắc, thủ ấn, vật để cưỡi khác nhau. Đại biểu cho năm loại trí huệ, công đức hàng phục Ngũ Độc và cứu độ tất cả chúng sinh. Xá lợi đem đi thực nghiệm được tìm thấy ở đâu? Ở huyện Ứng của tỉnh Sơn Tây có một ngôi toà tháp gỗ nổi tiếng gọi là tháp gỗ Huyện Ứng, còn được gọi là Phật Cung Tự Thích Ca tháp. Tháp gỗ được xây dựng vào năm 1056 SCN, trong triều đại Bắc Tống và nhà Liêu. Tháp cao 67,31 mét và tổng trọng lượng khoảng 7.400 tấn. Về mặt cấu trúc, thiết kế của tháp rất tài tình. Toàn bộ tháp từ trên xuống dưới không hề có đinh sắt mà tất cả đều được làm bằng các bộ phận cấu thành từ gỗ đan xen với nhau. Đây là kiến trúc lầu các cấu tạo hoàn toàn bằng gỗ cao nhất và cổ xưa nhất hiện có trên thế giới. Đây có thể được xem là điển hình của kiến ​​trúc cổ trên thế giới. Tháp gỗ Huyện Ứng, Tháp nghiêng Pisa ở Ý và Tháp Eiffel ở Paris còn được mệnh danh là “Tam đại kỳ tháp trên thế giới”. Vào năm 1966 và 1974, hai viên xá lợi răng của Đức Phật được khai quật từ tòa tháp gỗ ở huyện Ứng. Vì vậy, nơi đây cũng đã trở thành thánh địa văn hóa của Phật giáo. Điều gì đã xảy ra với xá lợi của Đức Phật Thích Ca? Theo ghi chép lịch sử Phật giáo, người sáng lập Phật giáo là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (563/480 TCN – 483/400 TCN) đã viên tịch ở tuổi 80. Sau khi hỏa táng, toàn thân của ông biến thành một thân thể kim cương. Lúc đó, đã có người đụng vào thì đột nhiên toàn thân hóa thành rất nhiều vật chất óng ánh, trong suốt, ngũ quang thập sắc, vô cùng cứng rắn, rải rác khắp mặt đất. Đây chính là xá lợi, thường được gọi là xá lợi tử. Xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là xá lợi Phật. Trong đó có đỉnh đầu, hai xương đòn, bốn răng Phật, một viên ngọc xá lợi ngón giữa và 84.000 viên xá lợi hình ngọc trai. Những viên màu trắng là xá lợi bằng xương, những viên màu đen là xá lợi tóc, và những viên màu đỏ là xá lợi thịt. Xá lợi xưa nay luôn được coi là báu vật của Phật môn. Vào thời điểm đó, tám vị vua của Ấn Độ cổ đại đã cử sứ giả đến địa điểm hỏa táng để yêu cầu trả lại xá lợi Phật. Lúc đó, đã không xảy ra tranh chấp nào, các bên thông qua hương tử của Bà La Môn để thương lượng. Cuối cùng, xá lợi Phật được chia đều cho tám vị vua. Các quốc gia mang các xá lợi về nước của họ, xây dựng các xá lợi tháp để thờ cúng và tổ chức các nghi lễ một cách thường xuyên. Xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đến Trung Quốc như thế nào? Điều này phải nhắc đến một nhân vật, ông ấy là vị vua A Dục Vương (Ashoka) của Vương triều Maurya của Ấn Độ. A-du-già Khổng Tước (khoảng 304 TCN – 232 TCN), được gọi tắt là A Dục Vương, là quốc vương đời thứ 3 của Vương triều Maurya ở Ấn Độ. Ông ấy cực kỳ mạnh mẽ, dũng cảm và thiện chiến. Từ năm 269 TCN đến năm 232 TCN, sau nhiều cuộc chiến, ông đã thống trị phần lớn tiểu lục địa Ấn Độ. Lãnh thổ của vương triều đã mở rộng sang Ấn Độ, Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Iran, Nepal, Pakistan và Sri Lanka với diện tích 4.200.000 km2. Vào năm thứ 8 sau khi lên ngôi, A Dục Vương chinh phục vương quốc Kalinga. Khi đó, ông đã chứng kiến ​​một lượng lớn các vụ thảm sát và vô cùng hối hận. Bắt đầu từ năm thứ 9 sau khi lên ngôi, ông thành kính tín ngưỡng Phật giáo và ông muốn cai trị đất nước một cách hòa bình. Sau đó, ông không bao giờ đàn áp các tôn giáo, quyên góp hào phóng cho Phật giáo, Bà La Môn giáo và Kỳ Na giáo. A Dục Vương nhấn mạnh sự khoan dung và chủ nghĩa không bạo lực. Ông đã trị vì đất nước trong vòng 41 năm và nhận được sự ủng hộ của người dân. Để quảng bá Phật giáo, A Dục Vương đã chia xá lợi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành 8.400 phần. Sau đó, ông phái một nhóm nhà sư đưa đến các quốc gia khác nhau. Vào khoảng năm 240 TCN, trước khi nước Tần thống nhất đất nước, vua Ashoka đã sắp xếp để nhà sư Thích Lợi Bàng hộ tống xá lợi xương của Đức Phật đến tận vùng Trung Nguyên của Trung Quốc. A Dục Vương là một trong những vị vua vĩ đại của Ấn Độ. Trong thời gian trị vì của mình, ông không chỉ đưa Ấn Độ cổ đại trở thành một quốc gia hùng mạnh chưa từng có trong lịch sử, mà còn mang lại sự thịnh vượng cho Phật giáo. Người đời sau còn gọi ông là “Hộ pháp của Phật giáo”. Những nơi nào khác ở Trung Quốc lưu giữ xá lợi thực sự của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni? Chùa Đại Báo Ân (trước đây là Chùa Trường Càn vào thời Bắc Tống) ở huyện Tân Hoài, thành phố Nam Kinh, tỉnh Giang Tô – Xá lợi đỉnh đầu Phật. Chùa Ashoka, huyện Âm Châu, Thành phố Ninh Ba, Tỉnh Chiết Giang – Xá lợi xương Phật. Chùa Pháp Môn, huyện Phù Phong, tỉnh Thiểm Tây (nay nằm trong Khu thắng cảnh văn hóa Chùa Pháp Môn) – Xá lợi ngón tay Phật. Chùa Linh Quang ở Bát Đại, Tây Sơn, Bắc Kinh – Xá lợi răng Phật. Chùa Nang Cực Lạp Trai ở Tây Tạng – Xá lợi răng Phật. Chùa Nam Hoa ở thành phố Thiều Quan, Quảng Đông – Xá lợi xương Phật. Chùa Lôi Phong ở Hàng Châu – Xá lợi tóc Phật. Chùa Thừa Thiên ở Ngân Xuyên, Ninh Hạ – Xá lợi xương đỉnh đầu Phật. Chùa Khánh Sơn ở Lâm Đồng, Tây An – Xá lợi thân Phật. Chùa Phật Cung, huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây – Xá lợi răng Phật. Tháp Thái tử Linh Tung ở huyện Vấn Thượng, Sơn Đông – Xá lợi răng Phật. Tượng Phật Thiên Đàn Hồng Kông – Xá lợi xương Phật. Xá lợi Phật cứng hơn cả kim cương và bên trong còn mang hình tượng Phật, là thánh vật mà Đức Phật để lại để minh chứng cho sự nhiệm mùa của Phật Pháp. Theo Sound of hope

  • Người phụ nữ mọc ra kim loại

    ANTĐ - Báo chí Indonesia trong 5 năm trở lại đây vẫn thường nhắc đến trường hợp vô cùng bí ẩn về cô Noorsyaidah, 45 tuổi, một giáo viên mầm non, sống tại ngôi làng Sangatta, Đông Kutai, từ ngực - bụng của cô mọc ra tua tủa những kim loại sắt!? Có những đoạn kim loại dài đến 20cm. Chúng cứ tiếp tục lớn dần và không chịu rụng. Noorsyaidah phải sống cùng phiền toái này suốt 22 năm qua mà không biết là vì sao. “Đùn đùn, nó đâm lên khỏi bề mặt da”! Noorsyaidah bắt đầu thấy trong người xuất hiện các biểu hiện lạ vào năm 1991 khi cô đang là sinh viên học ở trường đại học Mulawarman. Ngày hôm ấy, trong lúc tắm, cô hết sức ngạc nhiên và sợ hãi khi tận mắt nhìn thấy một sợi dây chồi ra từ ngực trên của mình. Chưa hết hoảng hốt, ngày hôm sau, các sợi dây khác thi nhau tủa ra như chiếc bàn chải dùng để kì cọ được làm bằng các dây sắt. Mỗi một đoạn kim loại đó dài từ 10 -20 cm. Khi nhô lên khỏi da chúng khiến cho cô Noorsyaidah có cảm giác đau đớn như bị kim châm liên tục nhiều lần trong cùng một thời gian. Đùn đùn, nó đâm lên khỏi bề mặt da, có lần có đến thảy 2-3 sợi cùng mọc lên trong khoảng khắc thời gian ngắn ngủi. Tất cả trông như là một cảnh được làm từ công nghệ hiện đại…”, Noorsyaidah cho biết. Tiếp đó các dây kim loại trông rất giống một sợi dây sắt rỉ “chui” ra khỏi ngực và bụng của cô. Chúng không chỉ làm cô đau đớn mà còn làm cô không thể di chuyển bình thường. Cô luôn phải cúi xuống và kéo áo ra khỏi những chỗ có kim loại mọc ra. Trong tuần đầu tiên chúng có rụng đi, để lại vết sẹo nhỏ. Tuy nhiên, một tháng sau chúng lại đùng đùng mọc lại. Không giống như lần mọc đầu tiên, bắt đầu từ lần mọc thứ 2 này trở đi, chúng không bao giờ rụng nữa. Chúng cứ tiếp tục lớn dần, có cái tồn tại đến 7 tháng. Trong những điểm chồi ấy, có một vài chỗ bị nhiễm trùng vì quá trình ôxi hóa kim loại. Nó bắt đầu rỉ, ăn vào da thịt cô Noorsyaidah càng bị đau đớn, cô phải dùng các loại thuốc khử trùng, sát trùng để chữa trị các vết thương.Một cơ thể sống bình thường!? Trong suốt 22 năm qua, Noorsyaidah đi đến nhiều bệnh viện với hy vọng các bác sĩ sẽ tìm ra được nguyên nhân và phương pháp chữa trị. Nhưng đi đến đâu, cô cũng chỉ nhận được cái lắc đầu. Ngậm ngùi, người phụ nữ ấy mang theo đau đớn và sự khó hiểu về nhà. Nhưng sau đó, đến năm 2007, chứng bệnh kỳ lạ của cô bắt đầu thu hút giới truyền thông và sự quan tâm của nhiều người. Một bệnh viện ở Samarinda đã đồng ý trả tiền viện phí điều trị và tiến hành các nghiên cứu về trường hợp lạ của cô. Một nhóm gồm 7 bác sĩ và các chuyên gia của bệnh viện ở Samarinda được lập ra mang tên Wahab Sjahranie. Kết quả cho thấy, những sợi dây kim loại này mọc và tăng trưởng ở dưới bề mặt của da. Chính vì vậy, nó không đâm sâu vào nội tạng trong cơ thể của Noorsyaidah. Còn nguyên nhân sự đâm chồi của những dây kim loại là do đâu thì họ chưa thể xác định được. “Tôi chưa bao giờ thấy và cũng chưa bao giờ gặp một trường hợp nào mắc bệnh kỳ lạ đến như này. Con người không thể sinh ra dây sắt hoặc gắn bó với nó trong cơ thể của chính mình”, ông Ajie Syirafudin, Tổng Giám đốc Bệnh viện Abdul Wahab Sjahranie cho biết. Trường hợp của Noorsyaidah là cơ thể cô ấy tự sinh ra. Trong khi đó, các xét nghiệm chứng tỏ, mọi chức năng trong cơ thể của Noorsyaidah đều khỏe mạnh và hoạt động bình thường. Thời gian đầu, các điểm chồi kim loại có bị nhiễm trùng nhưng suốt thời gian gần đây, chúng không bị nhiễm trùng nữa, Noorsyaidah cũng không còn phải thường xuyên dùng thuốc rửa như trước. Theo lý thuyết thì một cơ thể người bình thường sẽ từ chối bất cứ một vật thể cứng lạ nào đâm vào mà gây ra những phản xạ khác nhau, nhưng ở Noorsyaidah sự phản xạ đó dừng như “tạm ngừng”, “liệt”. “Dây không phải là xương hay một định dạng nào. Đây là một dây sắt!”, ông Ajie nhấn mạnh. Theo(Theo Mysterytopia)

  • Bí ẩn về bài hát ‘tử thần' gây 'ám ảnh' thế giới qua nhiều thập kỷ (P2)

    Âm nhạc là thứ không thể thiếu trong cuộc sống đời thường, nó giúp chúng ta thoải mái, thư giản và có thể là yêu đương hay là suy tư về quá khứ đến tương lai. Âm nhạc giúp khai phá tâm hồn của mỗi người, đa phần chúng giúp con người thư giản và lắng động vì được thấy mình ở trong bai hát. Nhưng bài hát "Gloomy Sunday" lại đem đến sự chết chóc và đau thương Liều thuốc đầu độc những người u sầu "Gloomy Sunday" thể hiện tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng của một người đàn ông thất tình, luôn đợi chờ tình yêu đích thực với những lời ca da diết như: Ngày chủ nhật u sầu, tôi chìm trong bóng tối Trái tim tôi và tôi quyết định chấm dứt tất cả Tôi biết, tiếp theo rất nhanh sẽ là nến và những người cầu nguyện Đừng để họ phải khóc, hãy để họ biết rằng tôi vui sướng được ra đi. Cái chết không phải là giấc mộng, vì trong cái chết, tôi được âu yếm em Còn lại hơi thở cuối cùng của linh hồn mình, tôi sẽ ban phước lành cho em..." Và đúng như tựa đề của nó, bài hát được viết vào một ngày chủ nhật ảm đạm của tháng 12/1932 tại thủ đô Paris (Pháp). Khi ấy, Reszo Seress chỉ là một nhà soạn nhạc vô danh thường nằm cả ngày trong căn phòng của mình vì không ai đón nhận những nhạc phẩm của ông. Cũng chính vì kiên quyết theo đuổi ước mơ trở thành nhạc sĩ quốc tế nổi tiếng, không chịu làm công việc gì khác mà mâu thuẫn giữa ông và vị hôn thê ngày càng gay gắt. Sau nhiều lần khuyên ngăn người yêu từ bỏ cái "ước mơ xa vời" kia không được, vị hôn thê của Reszo đã quyết định ra đi. Hai người nói lời chia tay vào một ngày chủ nhật bầu trời u ám kéo theo những cơn mưa lớn làm Paris chìm trong bầu không khí vô cùng ảm đảm. Trong tâm trạng buồn bã cùng khung cảnh ấy, Reszo ngồi bên chiếc dương cầm, rầu rĩ nhìn qua cửa sổ và giai điệu của bản nhạc được mệnh danh u sầu nhất thế giới "Gloomy Sunday" (Ngày chủ nhật ảm đạm) bắt đầu nảy sinh. Reszo vừa lẩm bẩm những nốt nhạc vừa dùng bút chì viết lại trên một tấm bưu thiếp cũ. Chỉ sau ba mươi phút, ông đã hoàn thành bài hát. Reszo rất tâm đắc với ca khúc "u sầu" này vì nó thể hiện đúng tâm trạng buồn bã, đau khổ của ông. Ông đã gửi nó tới nhiều nhà xuất bản âm nhạc với hy vọng được công chúng biết đến. Tuy nhiên, bản nhạc hết lần này đến lần khác bị gửi trả lại nhà Reszo với những lời từ chối lịch sự: "Gloomy Sunday" có giai điệu và nhịp điệu lạ nhưng nó quá buồn. Chúng tôi rất xin lỗi vì không thể sử dụng nó". "Có cả một sự tuyệt vọng bị cưỡng ép thật kinh khủng trong bài hát ấy. Tôi không nghĩ rằng nó sẽ đem lại điều gì hay ho cho người nghe"... Và phải tới năm 1935, phiên bản có lời đầu tiên bằng tiếng Hungary của "Gloomy Sunday", do một người bạn của Reszo là Javor viết lời và Pal Kalmar thể hiện mới được ghi âm. Phiên bản của Pal Kalmar ngay lập tức trở nên nổi tiếng tại Hungary khiến Reszo vô cùng hạnh phúc. Tuy nhiên, khi cái tên Reszo Seress đang bắt đầu được mọi người biết đến qua bản nhạc "Gloomy Sunday" thì hàng loạt những cái chết kỳ lạ liên quan đến ca khúc này xảy ra. Đầu tiên là cái chết của một người đàn ông sống tại thủ đô Budapest (Hungary). Sau khi yêu cầu ban nhạc ở một quán cafe đông đúc chơi bản "Gloomy Sunday", anh ta đã dùng súng tự tử ngay trên đường về nhà, trong một chiếc taxi. Một tuần sau đó, tại thủ đô Berlin (Đức), một nữ nhân viên bán hàng được tìm thấy treo cổ bằng một sợi dây thừng trong căn hộ của cô. Cảnh sát điều tra vụ tự sát cho biết dưới chân cô gái là tờ nhạc "Gloomy Sunday". Tiếp tục trong chuỗi những vụ tự tử kỳ lạ là một cô thư ký xinh đẹp tại New York tìm đến cái chết bằng hơi ga với bức thư tuyệt mệnh yêu cầu chơi bản nhạc "Gloomy Sunday" vào buổi lễ an táng cô. Một người đàn ông 82 tuổi nhảy từ cửa sổ của căn hộ tầng 7 sau khi chơi bài hát này bằng piano. Một cô bé 14 tuổi nhảy xuống sông tự tử khi trong tay còn đang cầm một bản copy của "Gloomy Sunday". Một cậu bé đang đi trên đường bỗng dừng lại, dốc sạch tiền trong túi ra cho người ăn xin chơi bản nhạc "Gloomy Sunday" rồi chẳng nói chẳng rằng đi tới một cây cầu, nhảy xuống sông tìm đến cái chết... Cứ như vậy, các vụ tự tử có liên quan đến bản nhạc u sầu của nhạc sĩ Reszo Seress trên khắp thế giới liên tục được báo chí đưa tin. Những lời đồn đại ma mị rằng bản nhạc này mang một lời nguyền chết chóc cũng nhanh chóng lan truyền. Các nhạc sĩ không dám chơi "Gloomy Sunday", thậm chí các ca sĩ cũng sợ không dám hát ca khúc này. Cuối cùng, cơ quan truyền thông Anh Quốc phải cấm hẳn bài "Gloomy Sunday" vào những buổi phát thanh thường lệ trên làn sóng. Nhiều cơ quan truyền thông Hoa Kỳ cũng nhanh chóng làm như vậy. 15 quốc gia khác đã đâm đơn kiện bản nhạc. Các luật sư cho rằng tác giả của "ca khúc tử thần" này nên chịu trách nhiệm cho hàng loạt cái chết vì "đứa con tinh thần" của anh ta. Tuy nhiên, khi các phương tiện truyền thông càng cố gắng chối bỏ bản nhạc thì nó càng trở nên phổ biến hơn. Người ta đua nhau tìm kiếm bài hát mang giai điệu "tự tử" này. Những bản copy lậu được bày bán trên đường phố như một loại trái cấm. Số người chết vì bản nhạc trên khắp thế giới lại càng gia tăng... Khoa học vào cuộc Thời gian trôi qua, khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, người ta cũng bắt đầu quên đi "bài hát tử thần" ấy. Dần dần, cơn sốt tìm bài hát dịu xuống và không còn vụ tự tử nào vì bài hát xảy ra nữa. Lúc này, cơ quan truyền thông Anh Quốc mới quyết định nới lỏng lệnh cấm bài hát. Đài BBC cho phát "Gloomy Sunday" trên làn sóng phát thanh nhưng bấy giờ, nó chỉ còn là một bản hòa tấu cho dàn nhạc. Từ đó trở đi, người ta biết đến "Gloomy Sunday" theo lối hòa âm này nhiều hơn là theo bản nguyên gốc. Thế nhưng, dù đã được chỉnh sửa lại, "lời nguyền" chết chóc vô hình trong bản nhạc lại tiếp tục gây tai họa. Cái chết của một người phụ nữ khi đang nghe phiên bản hợp tấu của "Gloomy Sunday" tại căn hộ của mình ở London mở đầu cho chuỗi dài những cái chết tiếp nối sau đó, buộc cơ quan quản lý truyền thông Anh lại phải tái ban hành lệnh cấm đặc biệt đối với "Gloomy Sunday". Khi những vụ tự tử bắt nguồn từ bản nhạc này lên tới con số hàng chục, Reszo Seress thực sự hoảng loạn. Ông không hiểu vì sao "đứa con tinh thần" ra đời trong giây phút tâm trạng u ám, sầu thảm ấy lại gây ra nhiều tai họa đến như vậy. Khi các phóng viên hỏi Reszo về tình trạng số người tự tử vì "Gloomy Sunday" ngày càng gia tăng, người nhạc sĩ bất hạnh nói: "Tôi bị mắc kẹt trong sự thành công chết chóc này như một kẻ có tội. Tôi đã trút mọi nỗi niềm thất vọng, đổ vỡ của trái tim mình vào bài hát, và dường như những người khác, có cảm xúc giống tôi cũng tìm thấy sự đồng cảm trong đó". Có lẽ do những ám ảnh tội lỗi vì "Gloomy Sunday" mà cuối cùng, chính Reszo cũng tìm đến cái chết như một sự giải thoát. Tháng 1/1968, ông "từ giã cõi đời" bằng cách treo cổ ngay sau sinh nhật lần thứ 69. Khi những tin đồn chết chóc quanh bản nhạc u sầu nhất mọi thời đại này lan rộng, các nhà nghiên cứu đã lên tiếng giải thích nguyên do những vụ tự tử một cách khoa học để dẹp đi sự lo lắng của mọi người. Họ cho rằng điện ảnh, âm nhạc, trò chơi... có thể tác động tới tâm lý của con người nhưng không mang tính quyết định. Vào thời điểm bản nhạc ra đời, Hoa Kỳ và châu Âu đang trong giai đoạn phát triển nền công nghiệp. Kinh tế - xã hội lâm vào thời kì khủng hoảng, suy thoái trầm trọng sau Chiến tranh thế giới thứ I, thất nghiệp gia tăng, rồi chết chóc, thương vong vương lại từ chiến tranh... Tất cả đã tác động mạnh đến tâm lý người dân và đưa họ rơi vào trạng thái mất phương hướng, trầm cảm, bi quan về cuộc sống. Lúc này, chỉ cần một tác động nhỏ từ bên ngoài như âm nhạc, phim ảnh... có tính sầu thảm sẽ rất dễ đưa họ đến quyết định tiêu cực. Bản nhạc với giai điệu ảm đảm, sầu buồn chỉ là "giọt nước tràn ly", cùng với đó là sự thêu dệt của dư luận tạo nên xu hướng "tự tử dây chuyền" vào thời điểm đó. Bản nhạc u sầu "Gloomy Sunday" đã được dịch ra hơn 100 thứ tiếng trên thế giới (trong đó có cả tiếng Việt và Quốc tế ngữ esperanto), thu hút rất nhiều các đại danh ca của thế giới như Billie Holiday, Ray Charles, Ricky Nelson, Sarah Brightman, Serge Gainsbourg... Một trong những ca sĩ được cho là đã thể hiện hay nhất bài hát này là nữ danh ca da đen người Mỹ Billie Holliday. Với cách thể hiện đầy cảm xúc, bài hát của Billie đã bị cấm tại Anh Quốc vào năm 1941 vì làm nản lòng người nghe vào lúc nước này cần động viên tinh thần dân chúng chống phát xít Đức. Liệu bài hát có lời nguyền nào không, và nó còn tồn tại đến ngày nay ? Tại sao nó chỉ là một bài hát đơn thuần nhưng có thể khiến nhiều người chết như vậy ? bài hát đưa tác giả từ nhà soạn nhạc vô danh tới người nổi tiếng và quái dị. Nguồn: Theo BBC, Music & Vision. Dịch: ngày nay online

  • Bí ẩn bài hát tử thần (P1)

    Âm nhạc được coi là liều thuốc tinh thần cho đời sống con người. Một bài hát có thể khiến chúng ta cảm thấy hứng khởi, yêu đời hoặc u buồn, trầm uất nhưng hiếm có bài hát nào có thể khiến người nghe tự tử vì nó. Chính vì lẽ đó Gloomy Sunday được coi là một trong những bài hát bí ẩn nhất từng được tạo ra trong lịch sử âm nhạc. Cha đẻ của bài hát - Rizzo Seress sinh ra tại Hungary, một số người nói rằng ông sống tại Paris, số khác lại cho rằng ông sống ở Budapest. Câu chuyện kể rằng chính sự tuyệt vọng và đau khổ khi bị người yêu bỏ rơi là nguồn cảm hứng để ông sáng tác giai điệu bài hát “Gloomy Sunday”. Giai điệu này được phổ lời bởi người bạn của Seress, nhà thơ Laszlo Javor. Do đó một số nguồn cho rằng người bị bạn gái bỏ là ông Javor và đó mới là nguồn cảm hứng của bài hát. Một số nguồn khác cho rằng Seress tự viết lời riêng về chiến tranh và sự khải huyền, sau đó mới được Javor chuyển thể thành một bản ballad trầm buồn. Dù sao thì cái tên ban đầu của bài hát “Szomorú Vasárnap” có nghĩa là “Ngày chủ nhật u ám” trong tiếng Hungary không nhận được nhiều sự chú ý. Phải đến 2 năm sau phiên bản ghi âm của Pál Kálmar mới trở nên nổi tiếng khi được cho rằng có liên quan tới nhiều vụ tự tử tại Hungary, dù khó để xác minh được điều này khi đất nước Hungary trong lịch sử là nơi có tỉ lệ tự sát cao nhất trên thế giới, khoảng 46 người trong số 100.000 người tự tử mỗi năm. Tuy nhiên ít nhất cũng có hàng chục vụ tự tử liên quan tới bài hát vào thời điểm nó được phát hành Chỉ một thời gian ngắn sau khi bài hát được phát hành, hàng loạt những vụ tự sát bí ẩn liên tiếp xảy ra. Đầu tiên là cái chết của một người đàn ông ở Budapest. Anh ta bước vào quán cà phê và yêu cầu dàn nhạc chơi bài Gloomy Sunday. Sau khi nghe dàn nhạc chơi xong, anh ta trở về nhà và tự tử bằng một phát súng vào đầu sau khi than phiền với người thân rằng anh ta cảm thấy cực kì tuyệt vọng và không thể thoát ra khỏi giai điệu u ám của bài hát. Chỉ một tuần sau tại Berlin, một nữ nhân viên bán hàng cũng được tìm thấy treo cổ tự sát ngay trong chính căn hộ của cô. Cảnh sát điều tra tìm thấy bản sao của bài hát Gloomy Sunday trên giường cô gái. Tuy nhiên những cái chết kì lạ vẫn chưa dừng lại ở đó. Hai ngày sau ở New York, một nữ thư kí trẻ xinh đẹp đã tự tử bằng hơi ga và trong bức thư tuyệt mệnh cô yêu cầu chơi bản nhạc “Gloomy Sunday” trong tang lễ của mình. Vài tuần sau đó, một người đàn ông 82 tuổi đã nhảy xuống từ cửa sổ căn hộ tầng bảy của mình sau khi chơi bài hát chết người này bằng piano. Cũng trong khoảng thời gian ấy, một thiếu niên khác ở Rome cũng nhảy cầu tự sát sau khi nghe giai điệu của bài hát tử thần. Trường hợp khác ở London, một người phụ nữ cũng tự tử bằng cách sử dụng thuốc an thần quá liều sau khi nghe bài hát “Gloomy Sunday” 78 lần với âm lượng tối đa. Xác của bà chỉ được phát hiện khi hàng xóm phá cửa do quá phẫn nộ khi bị tiếng ồn từ bài hát làm phiền. Những vụ án mạng liên quan tới bài hát “Gloomy Sunday” trong những năm 1930 nhiều đến mức Chính phủ Hungary đã phải ban hành lệnh cấm biểu diễn bài hát công khai và Đài BBC cũng cấm phát hành bài hát bị nguyền rủa này trên sóng. Ngay cả cha đẻ của ca khúc “Gloomy Sunday” dường như cũng không thể thoát khỏi lời nguyền của bài hát tử thần này. Sau khi bài hát trở nên nổi tiếng, ông viết thư cầu mong quay trở lại với vị hôn thê nhưng chỉ vài ngày sau đó ông biết được một sự thật kinh hoàng. Vị hôn thê của ông đã tự sát bằng thuốc độc và bên cạnh xác của bà là bản sao bài hát “Gloomy Sunday”. Vào năm 1968, Rizzo Seress cũng được xác nhận là đã tự tử bằng cách nhảy lầu vài ngày sau sinh nhật 69 tuổi. Trong lá thư tuyệt mệnh, ông viết “Tôi sống như một người mang tội lỗi trong sự thành công chết chóc này. Sự nổi tiếng làm tôi tổn thương. Tôi đã trút tất cả sự thất vọng trong trái tim mình vào bài hát và có vẻ những người có chung cảm nhận với tôi đã tìm thấy nỗi đau của riêng họ trong bài hát”. Liệu tất cả những cái chết trên có thực sự là do bài hát? Các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra một lời giải thích hợp lý nhằm phá bỏ sự lo lắng của công chúng về lời nguyền của “bài hát sát nhân”. Họ giải thích rằng vào thời điểm bài hát ra đời, kinh tế xã hội đang lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tỉ lệ thất nghiệp, tỉ lệ tử vong vì chiến tranh gia tăng… Những điều này có ảnh hưởng lớn tới tâm lý con người khiến họ dễ lâm vào trạng thái trầm cảm, bi quan, tuyệt vọng, mất niềm tin vào cuộc sống. Khi đó chỉ cần một tác động nhỏ từ bên ngoài như một bộ phim, một bài hát sầu thảm rất dễ khiến họ đưa ra những quyết định tiêu cực như tự sát. Bài hát “Gloomy Sunday” với giai điệu buồn bã gây ám ảnh của nó trở thành “tác động từ bên ngoài” cộng với sự thêu dệt và lan truyền của dư luận đã tạo nên hiệu ứng “tự tử dây chuyền” vào thời điểm đó. Trang Đặng (tổng hợp), nguồn CAND

  • Bí mật của những người không có dấu vân tay

    Thử tưởng tượng bạn sẽ gặp bao nhiêu rắc rối với thủ tục giấy tờ nếu không có dấu vân tay. Tuy nhiên, đó chưa phải là khó khăn cuối cùng bởi vì tình trạng như vậy còn là biểu hiện của một loại bệnh hiếm gặp. Adermatoglyphia là một bệnh lý gen cực kì hiếm gặp khiến cho người bệnh không có dấu vân tay. Nguyên nhân gây bệnh là do gặp phải những đột biến trên nhiễm sắc thể 4q22 chịu trách nhiệm mã hóa một loại protein đặc hiệu ở da. Khi đó, da lòng bàn tay, chân, các đầu ngón gần như trơn nhẵn hoàn toàn. Năm 2008, các quan chức Cục điều tra hình sự CIB Đài Loan đã phát hiện gia đình Hoàng Tiến gồm 60 người ở Đài Bắc mà tất cả các đầu ngón tay đều nhẵn bóng, không có vân tay. Lin Teih Bi, một chuyên gia về nhận dạng dấu vân tay của Đài Loan, đã xác định được gene di truyền không dấu vân tay của đại gia đình Hoàng Tiến trải qua ít nhất 5 thế hệ. Ông Hoàng Tiến Cheng, 57 tuổi, nhớ lại, năm ông 37 tuổi, đang làm sĩ quan quân đội thì nhận được lệnh lấy mẫu vân tay để xét duyệt thăng chức theo quy định mới. Ông Hoàng thực sự bối rối vì bản thân ông và cả gia đình ông không một ai có vân tay. Vài tháng sau đó, vì quá bối rối trước sự bất thường của mình trong quân ngũ nên ông quyết định nghỉ hưu non. Ông cũng như các con cháu thừa nhận rằng chuyện không có dấu vân tay không ảnh hưởng nhiều tới nếp sinh hoạt, làm ăn. Thậm chí, ông còn hài hước công nhận: vì không có vân tay, ngón tay trở nên nhạy hơn bình thường. Vì vậy nhiều năm qua, ông luôn giành được ngôi vị quán quân ở các trò chơi cổ xưa của Trung Quốc trong câu lạc bộ người già thành phố Đài Bắc. Ngay cả chuyện con gái ông đang làm cho công ty chứng khoán cũng bình thường như bao đồng nghiệp khác, cho dù công ty này yêu cầu mỗi lần bước vào hoặc ra khỏi phòng làm việc đều phải dùng ngón tay chạm vào màn hình của chiếc máy quét để xác nhận danh tính. Tuy nhiên, không ai trong gia đình ông đủ điều kiện sang Nhật Bản hoặc những nước đòi hỏi phải có dấu vân tay khi nhập cảnh. Cheryl Maynard, sinh sống tại Fairfax, bang Virginia (Mỹ) là một trong số những nạn nhân rất không may của căn bệnh khuyết dấu vân tay. Cô nhớ lại: "Bố tôi là một sĩ quan quân đội và cả gia đình thường phải chuyển nhà theo ông. Nhưng cứ mỗi lần chuyển tới một ngôi trường mới, tôi lại nhận được một câu hỏi: Bạn sẽ làm gì nếu không có dấu vân tay?". Maynard chỉ thực sự hiểu được vai trò của những đường hoa văn đó trong một lần thi tuyển vào vị trí tiếp viên hàng không của Hiệp hội Hàng không Liên bang Mỹ (FAA). Theo qui định, FAA sẽ lấy dấu vân tay của tất cả các ứng viên nhưng Maynard lại nằm ngoài số đó. "Có tới 5 trong 6 nhân viên kỹ thuật nói rằng một trong số các thí sinh không có dấu vân tay. Tôi nghe thấy họ tranh luận xôn xao và tôi đã không thể giữ được bí mật của riêng mình". Maynard ngậm ngùi luyến tiếc đã để trượt mất công việc yêu thích chỉ vì một căn bệnh bẩm sinh vô phương cứu chữa. Do thiếu hụt protein keratin 14 Trên thế giới, không thể có hai người hoàn toàn trùng khớp vân tay với nhau, cho nên dấu vân tay được coi là một trong những phương pháp xác định nhân thân chuẩn nhất hiện nay. Vân tay không ai giống ai, đặc sắc nhất là vân ngón cái và ngón trỏ. Nghiên cứu các vết vân tay có thể nhận ra người. Người châu Âu ngày xưa đã sớm nhận ra điều đó. Có những ông vua đã áp cả lòng bàn tay và ký vào các sắc dụ cơ mật, để không ai đánh tráo được. Thế nhưng, hiện tượng một số người không hề có vân tay, khi lăn ngón tay của họ lên một miếng kính trơn sạch, trên miếng kính đó không hề lưu lại dấu vết gì... là một câu hỏi lớn, một bí mật của nhân loại bây giờ mới được giải mã sau gần 80 năm nghiên cứu. Một nhóm các nhà khoa học thuộc Học viện Công nghệ Techion – Israel tại Haifa và Đại học Thomas Jefferson tại Philadenphia, đã lý giải được nguyên nhân của hiện tượng này. Trên tạp chí Human Genetics, tiến sĩ Jennie Lugassy, trưởng nhóm nghiên cứu khẳng định: "Chính sự thiếu hụt protein keratin 14 (KRT14) là nguyên nhân gây nên 2 căn bệnh 'Hội chứng Naegeli' và DPR, trong đó khuyết vân tay chỉ là một phần nhỏ của 2 căn bệnh này mà thôi". Protein keratin là một loại protein xơ tạo thành mô sừng của cơ thể như các móng tay. Gabriele Richard, một đồng sự của Jenni Lugassy cho biết: "Keratin 14 có một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển da và dấu vân tay". Điều quan trọng nhất, thiếu hụt Keratin 14 là căn bệnh có khả năng di truyền từ đời này sang đời khác, không trừ một ai trong gia đình nếu có tiền sử mắc bệnh này. Một trong những đặc thù của hiện tượng này là bệnh sắc tố da dạng lưới, đây là sự rối loạn gene hiếm thấy, người ta sẽ phải nghiên cứu rất nhiều vì loại bệnh này chỉ di truyền cho con gái trong gia đình. Một loại bệnh khác gây hiện tượng không có vân tay là chứng bệnh Naegeli, loại bệnh này có nhiều người mắc hơn bệnh về sắc tố dạng lưới của da, phần lớn những người không có vân tay trên thế giới đều mắc phải chứng bệnh Naegeli. Bạn sẽ làm gì nếu không có dấu vân tay? Trong quá trình quan sát, các nhà khoa học đã phát hiện ra một điều tuy không có vân tay, nhưng cuộc sống của những người đặc biệt này không có gì khác thường, họ cầm đồ vật không bị trơn tuột, xúc giác vẫn nhạy cảm như những người bình thường, cơ cấu da tay cũng không khác gì người thường. Họ cũng không bị mắc bệnh di truyền và vẫn khỏe mạnh. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, không có vân tay được coi là một loại dị dạng, mà như vậy không thể tránh khỏi những nhân tố tiềm ẩn gây ảnh hưởng đến sức khỏe. Các nhà khoa học tiếp tục tìm hiểu và thấy rằng, ở những người này, bàn tay, bàn chân của họ dày hơn, sự phát triển của răng, tóc và da đều không có quy tắc và xuất hiện sắc tố không đều... ví dụ như tóc thưa, móng tay dễ bị gãy, trên da có các vết ban. Nguy hiểm hơn cả là một số vấn đề về da khiến cho họ không thể tiết mồ hôi bình thường được. Và theo giáo sư Eli Sprecher của trường Technion, đồng tác giả của một bài nghiên cứu về tình trạng này đăng trên tạp chí American Journal of Human Genetics số tháng 10 vừa qua, đây chính là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của căn bệnh này. Chính vì không thể tự giảm thân nhiệt được nên họ có thể bị ngất vì cơ thể nóng quá mức. Đối với họ, thể thao là một thử thách khắc nghiệt. Những đứa trẻ có thể rất say mê bơi lội nhưng lại phải từ bỏ vì nước lạnh cũng không giúp được cơ thể giảm sự tăng nhiệt quá mức. Người mắc triệu chứng này thường phải rất thận trọng để giữ cơ thể mát mẻ, bên cạnh luôn sẵn có những túi đá lạnh, và thường phải ở trong phòng điều hòa quanh năm. Thật không may, đến nay vẫn chưa có giải pháp cho căn bệnh này. Nhưng việc tìm ra thủ phạm của nó, protein keratin 14, có thể là chìa khóa giúp chúng ta hiểu biết nhiều hơn về các loại bệnh thường gặp nguy hiểm khác. Giáo sư Gabriele Richard, một chuyên gia về gene của trường Thomas Jefferson, cho rằng rõ ràng keratin đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển da và hình thành vân tay trong bào thai. Đường vân tay và vân chân của chúng ta bắt đầu được hình thành từ 11 tuần tuổi của thai nhi, nhưng nếu một loại gen đặc biệt bị biến dị thì cơ thể sẽ mãi mãi không thể tạo ra được tín hiệu hình thành vân tay. Vân tay là do các gai da đội lớp biểu bì lên mà thành. Đó là nơi tập kết miệng các tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn … Nó đã định hình từ khi con người ta là cái thái 4 tháng trong bụng mẹ. Khi đứa bé ra đời, lớn lên, vân tay được phóng đại nhưng vẫn giữ nguyên dạng cho đến khi về già. Nếu tay có bị bỏng, bị thương, bị bệnh thì khi lành vân tay lại tái lập y hệt như cũ. Chỉ khi có tổn thương sâu hủy hoại hoàn toàn, sẹo chằng chịt mới xóa mất vân tay. Mặt khác những người không có vân tay vô cùng khó khăn trong việc chẩn đoán dự đoán và phán đoán các bệnh thường gặp chủ yếu mà con người mắc phải qua vân tay. Theo giáo sư Tatjana – người đứng đầu phòng thí nghiệm nhân học thể thao hình thái học và di truyền học thuộc Viện nghiên cứu thể lực Nga thì các hoa văn trên da ở đầu ngón tay hình thành hoàn chỉnh ở tháng thứ ba đến tháng thứ năm của bào thai và không thay đổi trong suốt cuộc đời. Da và hệ thần kinh trung ương cùng phát triển đồng thời từ một mầm bào thai. Vì vậy hoa văn ở đầu ngón tay là chỉ dấu về đặc điểm tổ chức não của người. Không những thế dấu vân tay được hình thành dưới tác động của hệ thống gene di truyền mà thai nhi được thừa hưởng và tác động của môi trường phát triển vi mô thông qua hệ thống mạch máu và hệ thống thần kinh nối với cơ thể mẹ. Có thể coi vân tay là một bức tranh tổng thể phản ánh hệ thống gen mà con người được thừa kế và những dấn ấn của môi trường sống mà con người đã trải qua từ khi còn là bào thai. Vì thế việc xem xét và phân tích vân tay cũng tương tự như việc nghiên cứu bản đồ gene của mỗi người. Qua đó, các chuyên gia có thể xác định được hàng chục loại bệnh tật khác nhau có bản chất di truyền sẽ xuất hiện trong cuộc đời mỗi người. Hiện nay, các nhà nghiên cứu cũng đang tìm hiểu liệu có mối liên quan gì giữa keratin và quá trình tự hoại của các tế bào đã được lập trình sẵn trong cơ thể. Thông tin từ đây có thể giúp giải quyết nhiều bệnh rối loạn về da. Quá trình tự hoại này là cách mà các tế bào tự tiêu diệt mình một khi giai đoạn tồn tại hữu ích của nó đã hết. Ở những tế bào bị ung thư thì quá trình này không hoạt động, dẫn đến việc tiếp tục tồn tại và phát triển của những tế bào đã "lỗi thời". Nguồn: Theo Pháp luật & Cuộc sống

  • Tàu chiến ma 400 năm vẫn nguyên vẹn: Lộ diện nữ thủy thủ bí ẩn

    Theo Heritage Daily, cuộc phân tích mới nhất về hài cốt người được tìm thấy trên tàu chiến Vasa đã xác định một bộ xương được đặt biệt danh "G" là một phụ nữ, điều rất bất thường tối với một tàu chiến lâu đời, nơi phụ nữ thường không được bước lên vì một số quan niệm cổ xưa. Vasa là một tàu chiến được chế tạo bởi lệnh của Vua Thụy Điển Gustavus Adolphus, như một phần trong kế hoạch mở rộng quân sự của ông trong cuộc chiến tranh với Ba Lan-Litva (1621-1629). Nó được đóng tại xưởng hải quân ở Stockholm trong khoảng thời gian từ năm 1626 đến năm 1627, được trang trí lộng lẫy và mang những khẩu đại bác bằng đồng. Điều này khiến tàu Vasa trở thành một trong những con tàu được trang bị vũ khí mạnh nhất thế giới vào thời điểm đó. Vào ngày 10/8/1628, con tàu ra khơi trong chuyến hải trình đầu tiên của mình, và gặp nạn ngay với trọng lượng quá lớn ở cấu trúc trên của thân tàu. Con tàu chìm khiến 30 thủy thủ thiệt mạng. Tàu chiến ma Vasa được trục vớt từ năm 1961 trong tình trạng bảo quản đáng ngạc nhiên và trở thành hiện trường của một cuộc khai quật khảo cổ học toàn diện, bao gồm phân tích rất nhiều hài cốt bị mắc kẹt trong tàu. "Thông qua phân tích xương, có thể khám phá ra rất nhiều điều về những người này, chẳng hạn như tuổi tác, chiều cao và tiền sử bệnh của họ. Các nhà phân tích xương gần đây nghi ngờ rằng G có thể là nữ, trên cơ sở xương chậu" - Tiến sĩ Fred Hocker, giám đốc nghiên cứu tại Bảo tàng Vasa, ở Stockholm, Thụy Điển cho biết. Họ kỳ vọng phân tích DNA tiếp theo có thể tiết lộ nhiều hơn nữa. Bảo tàng Vasa đã hợp tác với Khoa Miễn dịch học, Di truyền học và Bệnh học tại Đại học Uppsala ở Thụy Điển từ năm 2004 để tiến hành một nghiên cứu toàn diện về tất cả các di vật được phát hiện trên tàu Vasa. "Đối với chúng tôi, việc nghiên cứu các bộ xương từ Vasa vừa thú vị vừa thách thức" - giáo sư di truyền học pháp y Marie Allen, thành viên nhóm nghiên cứu cho biết. Rất khó chiết xuất DNA từ xương bị chôn vùi dưới đáy biển hàng thế kỷ, nhưng vẫn có cách. "Vài năm trước, chúng tôi đã có dấu hiệu cho thấy bộ xương G không phải là đàn ông mà là phụ nữ. Chúng tôi không tìm thấy nhiễm sắc thể Y nào trong vật liệu di truyền của G. Nhưng chúng tôi không thể chắc chắn và muốn xác nhận kết quả" - bà Allen nói thêm. Nhờ một nghiên cứu liên phòng thí nghiệm được thực hiện với sự phối hợp của Tiến sĩ Kimberly Andreaggi từ Phòng thí nghiệm Nhận dạng DNA của Lực lượng Vũ trang (AFMES-AFDIL), nhóm đã nghĩ ra một kỹ thuật thử nghiệm mới để kiểm tra nhiều biến thể di truyền và xác nhận sự tồn tại bất thường của nữ thủy thủ - hoặc có thể là vợ của một thủy thủ trên tàu. Các nhà khoa học đang tiếp tục dùng phương pháp này để tìm hiểu thông tin chi tiết về ngoại hình của các cá nhân, chẳng hạn như màu tóc và mắt của họ, và thậm chí có khả năng là nguồn gốc gia đình của họ. Các kết quả cuối cùng sẽ được trình bày trong một cuộc triển lãm tại bảo tàng và một cuốn sách về những người đã thiệt mạng trên tàu chiến maVasa. Nguồn: PV (Theo Người Lao Động)

  • Bí ẩn về chữ viết cổ đại của Đế chế Kushan cuối cùng đã được giải mã

    Đế quốc Kushan là một quốc gia cổ đại trải dài từ Uzbekistan ngày nay đến khu vực ngày nay là miền bắc Ấn Độ, và đã giúp truyền bá Phật giáo đến Đông Á giữa thế kỷ thứ nhất và thế kỷ thứ ba. Bắt đầu từ những năm 1950, các nhà khảo cổ bắt đầu xác định và nghiên cứu các đồ tạo tác mang "chữ viết Kushan không xác định", tuy nhiên họ không thể hiểu được ý nghĩa của những ký tự bí ẩn đó là gì. Nhưng các nhà nghiên cứu ở Đức và Tajikistan đã công bố vào tháng 7 năm 2023 rằng cuối cùng họ đã giải mã được một phần của hệ thống chữ viết cổ này. Các nhà nghiên cứu đã hoàn thành điều này bằng cách so sánh một văn bản song ngữ mà các nhà khảo cổ học người Pháp đã tìm thấy ở Afghanistan vào những năm 1960 với một văn bản song ngữ mà các nhà khảo cổ Tajik đã xác định được ở Tajikistan vào năm 2022. Cái gọi là văn bản song ngữ hoặc tam ngữ là những ví dụ song song về văn bản trình bày gần như cùng một nghĩa, nhưng bằng hai đến ba ngôn ngữ khác nhau. Tương tự như Phiến đá Rosetta, những văn bản có nhiều chữ viết này cho phép các nhà nghiên cứu xác định các ký tự và cụm từ trong hệ thống chữ viết Kushan cổ đại. Các nhà khảo cổ lần đầu tiên xác định được chữ viết Kushan vào những năm 1950, khi họ tìm thấy các ký tự được viết bằng mực trên một cầu thang ở Surkh Kotal, Afghanistan. Vào những năm 1960, các nhà khảo cổ học người Pháp đã tìm thấy loại chữ viết này trên một tảng đá ở Dašt-i Nāwur, cũng ở Afghanistan. Văn bản trên tảng đá chứa chữ Kushan cùng với hai chữ viết khác đại diện cho ngôn ngữ Bactria và ngôn ngữ Gāndhārī. Tuy nhiên, văn bản tam ngữ không ngay lập tức dẫn đến một bước đột phá trong việc hiểu được chữ viết Kushan. Svenja Bonmann, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tại Đại học Cologne ở Đức, đồng thời là tác giả chính của nghiên cứu gần đây cho biết, điều này một phần là do các nhà khảo cổ học người Pháp đã chụp những bức ảnh chất lượng thấp của văn bản song ngữ và sử dụng một bản vẽ không chính xác về nó để thảo luận về phát hiện này. Bài báo về chữ viết Kushan không xác định được đăng trên tạp chí Transactions of the Philological Society vào tháng 7 năm 2023. Không có hình ảnh rõ ràng, chính xác của văn bản song ngữ, các nhà nghiên cứu không thể dịch bộ chữ Kushan chưa biết. Trong vài thập kỷ tiếp theo, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều ví dụ khác về chữ viết này, bao gồm cả một chiếc bát bạc có khắc chữ ở Kazakhstan, nhưng ý nghĩa của nó vẫn chưa thể giải đáp. Sau đó, vào năm 2022, các nhà khảo cổ học Tajikistan đã xác định được một văn bản song ngữ tại Hẻm núi Almosi ở Tajikistan có chứa chữ viết Kushan chưa được biết đến cùng với ngôn ngữ Bactria. Jakob Halfmann, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tại Đại học Cologne và là đồng tác giả của bài báo gần đây cho biết: "Các nhà khảo cổ học đang theo dõi thông tin do một người đàn ông địa phương cung cấp. Anh ấy đã nhìn thấy những dòng chữ trên sườn núi gần nơi anh ấy sống, và anh ấy đã cố gắng nói với các nhà khảo cổ về điều này một thời gian, nhưng họ chỉ tin anh ấy và lắng nghe anh ấy vào năm ngoái. Và sau đó họ bắt đầu một cuộc thám hiểm và thực sự phát hiện ra rằng thực sự có những dòng chữ ở đó". Sau khi xác định vị trí của chữ viết song ngữ, nhà khảo cổ học người Tajik Bobomullo Bobomulloev đã làm việc với Bonmann, Halfmann và Natalie Korobzow, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học khác tại Đại học Cologne, để giải mã văn bản (Bobomulloev và Korobzow cũng là đồng tác giả của bài báo gần đây). Một trong những phát hiện quan trọng của họ là tên của nhà cai trị, vua Vema Takhtu xuất hiện trong các phần Bactria của cả văn bản song ngữ và tam ngữ, cho phép họ xác định tên của ông trong cả hai phần của văn tự Kushan. Phương pháp này tương tự như quy trình mà nhà ngữ văn học người Pháp Jean-François Champollion đã sử dụng khi dịch Phiến đá Rosetta, nơi nổi tiếng có một đoạn văn được viết bằng chữ tượng hình Ai Cập, chữ viết Demotic của Ai Cập và chữ viết Hy Lạp. Champollion bắt đầu bằng cách xác định những tên hoàng gia như Cleopatra trong chữ viết Hy Lạp và sau đó tìm thấy chúng trong các phần của đá Ai Cập cổ đại. Hầu hết các ví dụ khảo cổ về chữ viết Kushan chưa được biết đến có niên đại từ thế kỷ thứ hai trước Công nguyên đến thế kỷ thứ ba, và được tìm thấy ở các quốc gia ngày nay là Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Afghanistan. Chữ viết tương ứng với một ngôn ngữ Iran không xác định có khả năng là một trong những ngôn ngữ chính thức của Đế quốc Kushan, cùng với các ngôn ngữ như Bactria, Gāndhārī và tiếng Phạn. Một lý do khiến nghiên cứu của Bonmann và đồng nghiệp của cô có ý nghĩa quan trọng là nó cung cấp thêm bằng chứng về sự tồn tại của Vema Takhtu, người đã cai trị Đế chế Kushan trong thế kỷ thứ nhất và mở rộng phạm vi cai trị của nó sang phía tây bắc Ấn Độ. Trước đây, một số học giả đã tranh luận liệu vị vua này có thực sự tồn tại hay không. Việc xác định tên của ông trong hai ví dụ khác nhau về chữ viết Kushan đã bổ sung thêm bằng chứng lịch sử rằng ông là một nhà cai trị quan trọng của Đế chế Kushan. Ngoài việc xác định tên của Vema Takhtu, các tác giả của bài báo gần đây cũng xác định các cụm từ "vua của các vị vua" và "vị cứu tinh vĩ đại"—cả hai đều mô tả về Vema Takhtu. Các tác giả ước tính rằng họ đã giải mã được khoảng một nửa số ký tự Kushan và hy vọng sẽ giải mã được nhiều hơn nữa trong tương lai. Nghiên cứu sâu hơn có thể cung cấp thêm thông tin về đế chế và những người sống ở đó khoảng hai thiên niên kỷ trước. Nguồn: PV (Theo Phụ nữ số)

bottom of page